(Đã dịch) Đô Thị Chi Hoàn Mỹ Phú Hào - Chương 769: Trung thu bánh Trung thu thuộc tính —— Tư Ức ( bốn canh cầu đặt mua)
Vỏ bánh Trung thu pha lê này óng ánh rực rỡ, chỉ khẽ cắn đã vỡ tan.
Ngay sau đó, nhân bánh bên trong trực tiếp tan chảy trong miệng, thơm ngọt dịu dàng, mỹ vị lạ thường.
Chiếc bánh Trung thu này chính là Tư Ức bánh Trung thu.
Thực ra, nó rất đỗi bình thường, nhưng lại sở hữu một đặc điểm độc đáo: có khả năng khiến người ta hồi tưởng lại hương vị hạnh phúc của tuổi thơ.
Chẳng hạn, tất thảy những món ngon mà người từng thưởng thức thuở ấu thơ đều sẽ hiện hữu rõ ràng vào khoảnh khắc này.
Hơn nữa, nó còn có thể gợi lại cho người những cảm xúc xưa cũ.
"Mùi vị này. . ." Thủ trưởng Số Hai thật sự ngỡ ngàng.
Mùi vị này thật quá đỗi quen thuộc.
Giống hệt những chiếc bánh Trung thu mẹ làm thủ công thuở thơ ấu.
Đã mấy chục năm người chưa từng nếm lại hương vị ấy.
Chiếc bánh Trung thu này. . . .
Trong lòng Thủ trưởng Số Hai chấn động.
Kế đến, người lại lần nữa thưởng thức từng chút một, nước mắt bất giác trào ra khóe mi, tâm tư quay về mẫu thân mình.
Thuở nhỏ trong nhà nghèo, về sau cuộc sống khá hơn đôi chút, mẹ thường làm bánh Trung thu vào dịp Tết.
Mấy anh em chúng ta ai nấy đều vô cùng mong chờ.
Khi nếm thử, cảm giác ấy chính là món mỹ thực ngon nhất trên thế gian.
Người ăn liền tù tì mấy chiếc.
Cùng với sự phát triển của quốc gia, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao.
Đ��� ăn thức uống cũng phong phú hơn, chủng loại cũng nhiều hơn.
Thế nhưng, hương vị xưa cũ thì không còn.
Thủ trưởng Số Hai vô cùng cảm kích Chung Cảnh, bởi vì chiếc bánh Trung thu này đã giúp người nhớ lại hương vị của tuổi thơ.
Đoạn ký ức ấy mới thật sự là quý giá nhất.
Rất nhanh, cả chiếc bánh Trung thu đã được ăn sạch.
"Chung Cảnh đã mua loại bánh Trung thu này ở đâu vậy? Thật sự quá đỗi ngon miệng!" Người lau đi những giọt lệ nơi khóe mắt, trong lòng vô cùng hiếu kỳ.
Bánh Trung thu là món đồ ăn lưu truyền từ lâu đời, tương truyền do Hằng Nga sáng tạo.
Nhưng đây chỉ là truyền thuyết thần thoại, chứ không phải lịch sử thực sự.
Theo tư liệu lịch sử ghi chép, từ thời Ân, Chu, vùng sông Chiết đã có một loại bánh mỏng nhân dày gọi là "Thái sư bánh" dùng để kỷ niệm Thái sư Văn Trọng, đây chính là "thủy tổ" của bánh Trung thu.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nó chưa được gọi là bánh Trung thu.
Cái tên "bánh Trung thu" này, tương truyền có nguồn gốc từ thời Đường.
Sách « Lạc Trung kiến văn » từng ghi chép: Vào yến tiệc tân khoa tiến sĩ Khúc Giang dịp Tết Trung thu, Đường Hy Tông đã sai người ban tặng bánh Trung thu cho các tiến sĩ.
Đến thời Bắc Tống, bánh Trung thu thịnh hành trong cung đình và cũng dần lưu truyền ra dân gian, bấy giờ tục gọi là "tiểu bánh" hay "nguyệt".
Sau này, bánh dần biến thành hình tròn, ngụ ý về sự đoàn viên tốt đẹp, phản ánh ước nguyện sum họp gia đình và tấm lòng tưởng nhớ sâu sắc đến bạn bè, người thân.
Hoàng gia Bắc Tống vào Tết Trung thu ưa chuộng một loại "bánh" mà dân gian thường gọi là "tiểu bánh" hay "nguyệt".
Tô Đông Pha từng có thơ rằng: "Tiểu bánh như vành trăng, bên trong có xốp giòn cùng nhân bánh".
Trong cuốn « Mộng Lương Lục » của Ngô Tự Mục đời Nam Tống đã xuất hiện từ "bánh Trung thu", nhưng miêu tả về tục ngắm trăng, ăn bánh Trung thu vào Rằm tháng Tám thì phải đến sách « Tây Hồ du lãm chí dư » đời Minh mới có ghi chép: "Ngày mười lăm tháng tám gọi là Trung thu, dân gian dùng bánh Trung thu biếu tặng, lấy ý nghĩa đoàn viên".
Đến đời nhà Thanh, ghi chép về bánh Trung thu càng nhiều, mà kỹ thu��t chế tác cũng ngày càng tinh xảo.
Văn học gia Chu Mật đời Nam Tống, trong tác phẩm « Vũ Lâm cựu sự » kể về những điều mắt thấy tai nghe tại kinh đô Lâm An thời Nam Tống, đã lần đầu tiên nhắc đến tên gọi "bánh Trung thu".
Tương truyền vào thời Nguyên, dân chúng Trung Nguyên rộng lớn không cam lòng chịu sự thống trị tàn bạo của chính quyền Mông Cổ, nhao nhao nổi dậy khởi nghĩa kháng Nguyên. Chu Nguyên Chương muốn liên kết các lực lượng phản kháng, nhưng binh lính Mông Cổ điều tra nghiêm ngặt, khổ nỗi không thể truyền tin tức.
Thế nên Lưu Bá Ôn bèn nghĩ ra một kế sách, truyền lệnh cho Vương Chiêu Quang làm bánh nướng, rồi giấu tờ giấy viết dòng chữ "Đêm Rằm tháng Tám khởi nghĩa" vào bên trong bánh. Lại sai người phân tán đi truyền tin đến các nơi quân khởi nghĩa, thông báo họ cùng nhau hưởng ứng khởi nghĩa vào đêm Rằm tháng Tám. Nhờ vậy mà một phen lật đổ được triều Nguyên.
Đến đời Minh, tục ăn bánh Trung thu vào dịp Rằm tháng Tám mới dần dần lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Bấy giờ, các nghệ nhân làm bánh khéo léo đã khắc họa những đồ án nghệ thuật lấy cảm hứng từ thần thoại Hằng Nga bay lên cung trăng lên bánh Trung thu, khiến món bánh này càng được dân chúng ưa chuộng, trở thành món ăn thiết yếu trong ngày hội Trung thu.
Trong cung đình, bánh Trung thu cũng trở thành món ăn phổ biến, như trong « Minh Thần Tông thực lục » đã ghi chép việc Hoàng đế mười lần ban tặng bánh Trung thu cho các đại thần.
Đời nhà Thanh, ăn bánh Trung thu vào dịp Rằm tháng Tám đã trở thành một phong tục phổ biến, và kỹ thuật chế tác ngày càng cao.
Viên Mai đời Thanh trong « Tùy Viên thực đơn » đã giới thiệu: "Vỏ bánh Trung thu giòn xốp, nhân làm từ hạt thông, hạt óc chó, hạt dưa cùng đường phèn, mỡ heo; khi ăn không thấy quá ngọt mà thơm lừng, mềm mịn, khác biệt hoàn toàn với những loại thông thường".
Bánh Trung thu kinh đô thì nổi tiếng nhất là loại do tiệm Mỹ Trai ở Tiền Môn chế biến.
Xét trên cả nước, đã hình thành năm loại phong vị lớn: Kinh (kinh đô), Tân (Thiên Tân), Tô (Tô Châu), Quảng (Quảng Châu), Triều (Triều Châu); lại xoay quanh việc bái nguyệt, ngắm trăng vào Trung thu mà còn sinh ra rất nhiều phong tục dân gian địa phương, như nét tục của Giang Nam là "Trạng Nguyên": cắt bánh Trung thu thành ba miếng nhỏ từ tâm bánh, xếp chồng lên nhau, miếng lớn nhất đặt dưới cùng là "Trạng Nguyên"; miếng vừa ở giữa là "Bảng Nhãn"; miếng nhỏ nhất đặt trên cùng là "Thám Hoa". Sau đó, cả nhà cùng đổ xúc xắc, ai có số điểm cao nhất sẽ là "Trạng Nguyên", được ăn miếng bánh lớn nhất; tiếp đến là "Bảng Nhãn", "Thám Hoa" và các vị trí khác, tạo nên trò chơi vui vẻ.
Hiện nay, bánh Trung thu càng trở nên đủ loại hình thức.
Có loại thì nhân thịt, bên trong là thịt băm.
Lại có loại cho thêm lòng đỏ trứng.
Người khác không rõ thế nào, nhưng Chung Cảnh thì cứ cảm thấy đó là ăn để mà chết.
Còn có nhân trái cây khô, chà bông, giăm bông, v.v.
Chỉ sợ không nghĩ tới, chứ không có gì là không làm được.
Đủ loại, đủ kiểu.
Chung Cảnh vẫn thích nhất là loại bánh Trung thu ngũ nhân mà người ăn thuở nhỏ.
Đậu phộng, hạt dưa, đường, nho khô, v.v., làm nên một hương thơm khó cưỡng.
Đương nhiên, khẩu vị mỗi người mỗi khác, cảm nhận cũng chẳng giống nhau.
Chung Cảnh vẫn thích nhân ngũ nhân!
Từng dòng chữ này là sự tâm huyết của người dịch, xin chớ sao chép mà không ghi nguồn.