Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Đường Tàn - Chương 287: Đi đường vũ dồn dập

Vương Trọng Bá, người liên lạc kiêm tướng lĩnh từ nghĩa quân Giang Lăng. Cái tên nghe có vẻ oai dũng, thô bạo theo phép tắc xưa, nhưng bản thân ông ta lại là một hán tử dáng vẻ thô kệch, tính tình điềm đạm, ít nói nhưng rõ ràng, súc tích và hiên ngang.

Qua cuộc trò chuyện với y, Chu Hoài An mới hay, Vương Trọng Bá từng là một trong ba quan tiên phong dưới trướng Đại tướng quân tiền quân sứ Phí Truyện Cổ của Tận Thiên phủ. Y vốn là thành viên kỳ cựu của nghĩa quân, đi theo tộc nhân chạy nạn từ trận đại hạn hán ở Hà Bắc, vượt Hoàng Hà để nương tựa nghĩa quân. Mang thân phận hương binh kiêm bộ khúc, y đã tham gia hầu hết các chiến dịch nam chinh bắc chiến của nghĩa quân. Nhờ sự dũng cảm và kinh nghiệm lão luyện, y được lão tướng Phí Truyện Cổ dưới trướng khá trọng dụng, trở thành một trong ba quân sứ hiếm hoi còn sót lại trong quân doanh nghĩa quân. Cuối cùng, y được thăng làm biệt lĩnh, thống suất một bộ quân tinh nhuệ xông pha trận mạc, giữ chức quan tiên phong.

Thế nhưng, sau sự kiện Vương Sùng Ẩn và Tào Sư Hùng liên thủ, dẫn theo hơn nửa đội ngũ cánh tả bất ngờ đánh chiếm rồi cố thủ Giang Lăng, những người có liên hệ hoặc từng dốc sức dưới trướng Hoàng Vương như y cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng và liên lụy. Đầu tiên, lão tướng Phí Truyện Cổ – người vẫn luôn tin tưởng y – bắt đầu tránh hiềm nghi và xa lánh y. Sau đó, ngay cả các tướng lĩnh đồng cấp tiên phong cũng công khai hay ngấm ng��m cô lập y. Hậu quả là, sau nhiều trận huyết chiến phá địch, binh lính của bộ ngũ y không được bổ sung đầy đủ, khiến lực lượng ngày càng suy yếu.

Chính vì thế, sau cùng, nỗi bất mãn tích tụ đã khiến y mượn cớ bỏ trốn, mang theo một nhóm thân tín và bộ hạ cũ. Y quay sang phò tá Vương Sùng Ẩn – người đang chiêu binh mãi mã, mở rộng địa bàn ở Giang Lăng – và trở thành thống lĩnh thủy quân Giang Lăng, mang danh Tả Lãng tướng. Tuy gọi là biệt lĩnh thủy quân Giang Lăng, thực chất y chỉ thống lĩnh đội thuyền vận tải qua lại trên đường thủy Giang Lăng mà thôi. Trong số đó, đa phần là thuyền buôn và thuyền dân được trưng dụng tại địa phương, hiếm khi có chiến thuyền đúng nghĩa. Lực lượng hộ vệ chủ yếu là binh sĩ đi kèm, được trang bị cung nỏ và một số vật dụng ném như đá, v.v., có thể nói là vô cùng đơn sơ và thiếu thốn.

Tuy nhiên, đối tượng mà y phải đối phó chủ yếu là những tàn dư địa phương còn sót lại sau khi nghĩa quân đi qua, như thổ phỉ, quan quân, loạn binh, đạo tặc, thậm chí là dân đói tụ tập thành giặc cướp. Y chưa từng để xảy ra bất kỳ sai sót nào; vậy nên, lần này y trở thành lựa chọn hàng đầu cho chuyến cầu viện phương nam. Dĩ nhiên, xét theo một nghĩa nào đó, vị tướng lĩnh này cũng là một 'sản phẩm' bị ảnh hưởng gián tiếp từ những sắp đặt trước đó của Chu Hoài An. Hiện tại, phần lớn thủy quân dưới trướng y vẫn đóng giữ Giang Lăng, còn y chỉ kịp dẫn theo vỏn vẹn một trăm tám mươi người vội vã chạy đến.

Vì vậy, Chu Hoài An đã lấy thẳng trong kho ra hơn mười bộ pháo xoáy gió cũ kỹ được tân trang, cùng một số máy bắn đá, trang bị thêm vào đầu đuôi đội thuyền vận tải của y để tăng cường hỏa lực tầm xa. Điều này cũng coi như thêm một bước kéo gần mối quan hệ và tăng thiện cảm.

Trước khi xuất phát, Chu Hoài An thậm chí còn ký ban hành một loạt mệnh lệnh mới, hay nói đúng hơn là các chính sách khuyến khích, với hai nội dung chính:

Thứ nhất là khuyến khích nhiều phụ nữ tham gia lao động sản xuất, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu mở rộng không ngừng của các công trường. Các công việc được chia thành vị trí làm việc vặt ngắn hạn trong lúc nông nhàn, và vị trí lao động cố định lâu dài có bao ăn ở. Ít nhất, trước nhu cầu lao động dồi dào của các ngành tơ tằm, dệt, in nhuộm đang thịnh vượng nhờ tiêu thụ ra bên ngoài, chính sách này có thể coi là tương đối bình đẳng giới. Dù việc tính toán lương bổng vẫn mang mục đích bóc lột và áp bức, nhưng ít nhất về mặt hình thức, việc có cơm ăn và một khoản lương bổng ít ỏi vẫn hiệu quả hơn nhiều so với việc trực tiếp kiếm ăn từ đồng đất. Ngoài ra, như một phúc lợi khuyến khích phụ nữ đi làm, nếu đạt đủ thời hạn nhất định, họ còn nhận được một ít vật phẩm hỗ trợ cho gia đình.

Phụ nữ thời đại này chưa bị ảnh hưởng bởi những tác dụng phụ và tệ nạn lễ giáo do Lý học thịnh hành thời Hoàng Tống sau này mang lại. Dưới áp lực mưu sinh, họ thường phải gánh vác công việc như nam giới, thậm chí sau khi chồng bị bắt đi lính hay mất tích, họ còn phải đảm đương gánh nặng phụng dưỡng cha mẹ chồng và nuôi con. Do đó, nghĩa quân đã mở ra một con đường gián tiếp để họ tăng thêm thu nhập. So với đó, nh���ng kẻ tự xưng là nữ quyền gia sống ký sinh trùng thời sau này – những người nằm trong một hệ thống phúc lợi xã hội tương đối hoàn thiện, chỉ biết khoác lác về bình đẳng giới nhưng chỉ đòi quyền lợi mà không nói đến nghĩa vụ – cả ngày chỉ mơ mộng lấy được một ông chồng giàu có, "khí đại hoạt tốt" để nửa đời sau được sống cuộc đời thiếu nãi nãi nhàn nhã, muốn gì được nấy. Cái gọi là "phụ nữ thời đại mới" đó, đúng là một trò cười.

Mặt khác, để bổ sung thêm nhân lực mới, trước đây nghĩa quân cũng đã thành lập nữ doanh, chủ yếu để đảm nhiệm các công việc hậu cần như may vá, giặt giũ, các việc vặt, chăm sóc người bệnh, hay chế tạo y phục – những công việc đòi hỏi kỹ năng. Nguồn nhân lực chủ yếu đến từ thân thuộc của nghĩa quân, những phụ nữ góa bụa, mồ côi, hoặc phụ nữ lưu dân chạy nạn. Tuy nhiên, trước nhu cầu nhân công và sự thiếu hụt ngày càng tăng, số lượng này rõ ràng là không đủ.

Cũng tương tự, nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội, một chính sách đi kèm khác là lấy danh nghĩa liên kết với các công trường do lưu ty quản lý, tuyên truyền rộng rãi ở thành thị và nông thôn về việc tuyển dụng học đồ. Thực chất đây là hình thức gián tiếp khuyến khích người dân gửi con gái trên mười tuổi mà họ không thể nuôi nổi đi học nghề, để các em có thể tự nuôi sống bản thân. Mục tiêu là áp dụng phương pháp bắt đầu từ những công việc tuyển chọn đơn giản nhất, tiến hành lao động ban ngày, tối luyện tập kỹ nghệ và học văn hóa cơ bản. Ngay cả sau khi trưởng thành, họ vẫn phải tiếp tục tham gia lao động tập thể hoặc phục vụ nghĩa quân từ mười đến hai mươi năm (tùy theo biểu hiện) mới có khả năng được trở về quê nhà. Mục đích chính vẫn là bồi dưỡng những 'hạt giống' và 'ngọn lửa' phù hợp với nghĩa quân từ trong tầng lớp thanh thiếu niên chưa hình thành tam quan. Ngoài những cô nhi lưu lạc được nghĩa quân thu nhận, họ còn là nguồn bổ sung tiềm năng cho danh sách binh lính thông thường, quan lại cấp cơ sở, công nhân công nghiệp (thợ máy) và thậm chí là các ngành nghề phân công xã hội khác. Do đó, dù trong ngắn hạn, kho��n đầu tư này có thể coi là 'tiền vào không ra', nhưng về lâu dài, đó lại là một khoản lợi nhuận căn bản.

Hiện tại, Lĩnh Ngoại Thái Bình Quân dưới trướng được cho là có đến năm vạn quân. Tuy nhiên, sau khi điều động hơn vạn người ra trận, lực lượng còn lại để đóng giữ không khỏi trở nên khá eo hẹp. Bởi lẽ, gần một nửa trong số đó phải phân bổ đóng quân tại các vị trí xung yếu trọng yếu thuộc Ngũ Lĩnh, trải dài từ Sâm Châu – Liên Châu, Thiều Châu đến Mai Châu. Một phần nhỏ khác luân phiên canh giữ các cảng của An Nam, đồn điền, diêm trường; một phần còn lại dùng để tuần tra các tuyến đường hàng hải trên biển và nội hà. Do đó, ngoại trừ hai khu vực trung tâm là Quảng Châu và Triều Châu còn giữ lại một ít binh lực cơ động, mười mấy châu còn lại đều phải dùng tân binh chưa đủ biên chế để kiểm soát các khu vực trọng yếu. Còn ở cấp huyện, chỉ có thể dựa vào số lượng hạn chế các đội tuần phòng tại chỗ và các đội bảo vệ từ các thôn trang nửa thoát ly sản xuất để duy trì trật tự hàng ngày.

Tình trạng bất thường này không thể kéo dài quá lâu, một khi có ngoại lực can thiệp, biến cố tất sẽ xảy ra. Bởi vậy, ở khu vực biên giới Quảng Châu cùng ba châu duyên hải xa xôi, nghĩa quân đã bắt đầu chiêu mộ số lượng thanh niên trai tráng lớn hơn cả số người xuất trận, tiến hành huấn luyện quân sự nửa năm để chuẩn bị sẵn sàng.

Chu Hoài An cũng đặc biệt thận trọng với lần xuất quân toàn lực này, thà giao Liên Châu và phần còn lại của Sâm Châu cho Sài Bình trấn giữ, còn bản thân thì trực tiếp dẫn đội đi tổ chức viện quân, đồng thời điều động hơn nửa số thủ hạ được cho là đắc lực.

Đoàn đại quân mênh mông di chuyển từ biên giới Quảng Châu, ngược dòng theo các nhánh sông Châu Giang về phía tây bắc. Họ luân phiên đi thuyền và đi bộ, qua các huyện lỵ như Tứ Hội, Hóa Đức, Vọng Tập, Tồn An. Dọc đường, họ nhận được sự trợ giúp về vật liệu và nhân lực tương ứng, thậm chí có cả một số thanh niên trai tráng nghe tin tự nguyện gia nhập đội quân bộ.

Sau đó, từ huyện Tồn An, họ rẽ về phía tây, đi bộ hơn mười dặm thì tiến vào ��ịa phận Chúc Châu nằm bên bờ Châu Giang – nơi đã thuộc về hạt địa Quế Quản kinh lược sứ, một trong ba vùng do Tiết độ sứ Lĩnh Tây quản lý. Con đường bằng phẳng, rộng rãi trước đó, vốn thuận lợi cho thuyền bè và người song hành, giờ đã biến thành những lối núi quanh co, uốn lượn, lên xuống dốc liên tục qua các khe núi, thung lũng.

Từ khu vực huyện Phong Dương, họ lại lên thuyền, tiếp tục xuôi dòng thượng lưu con sông được mệnh danh là Chúc Thủy Tây, đi qua các huyện Sóc Chúc, Phú Xuyên. Sau đó, qua các huyện Phú Châu Vọng Cần, Long Bình, Bình Lạc thuộc Sáng Sủa Châu, đoàn quân sẽ chính thức tiến vào địa phận Dương Sóc, nằm trong vùng Quế Châu – một đại châu thuộc dãy núi Lĩnh Tây. (Các địa danh và huyện lỵ trên đây có tên gọi và vị trí địa lý tương đồng với hiện nay, không cần giới thiệu thêm.) Dọc theo con đường này, có thể nói ngoài núi vẫn chỉ là núi. Từ những đồi núi thấp, trùng điệp cho đến những khe núi dựng đứng liên miên như một bức màn che, tất cả chia cắt địa thế rộng lớn thành từng mảnh vụn, đồng thời giới hạn mọi khu vực dân cư như thôn xóm, thị trấn, thành thị vào những lòng chảo lớn nhỏ biệt lập như những hòn đảo, ngăn cách nhau.

Trên đường, thỉnh thoảng vẫn có thể bắt gặp nhiều dấu vết chiến trường cũ mới, cùng với một số doanh trại quân đội bỏ hoang, pháo đài canh gác nửa đổ nát không một bóng người. Đó l�� tàn tích của những cuộc tranh giành ác liệt trước đây giữa nghĩa quân tấn công Lĩnh Tây, quan quân dưới trướng Quế Quản kinh lược sứ và các thổ phỉ địa phương dọc đường. Mỗi châu huyện nằm sâu trong lòng dãy núi biên giới Lĩnh Tây, dù chưa được cải tạo và tái thiết triệt để tại địa phương, nhưng ít nhiều cũng đã trải qua sự 'thanh tẩy' của các cuộc chiến tranh giằng co trước đó. Bởi vậy, ngay từ đầu, các ty đóng quân của nghĩa quân cũng chỉ có một ít binh lính đóng giữ và quan lại lâm thời để duy trì trật tự. Các nơi này định kỳ trưng thu một ít lương thực, vật liệu từ các thôn xã cấp huyện để cung cấp cho Quảng Châu, đồng thời tiếp nhận các đoàn xe buôn bán do ty đóng quân phái đến, đảm bảo trật tự vận tải cơ bản. Bởi thế, trước mắt chúng vẫn tạm thời duy trì trạng thái nửa tự trị. Dù không thể cung cấp trợ lực gì cho đại quân Chu Hoài An xuất chinh, nhưng ít nhất họ cũng không thể gây trở ngại.

Thực tế, những kẻ dám 'châu chấu đá xe' trước mặt vạn quân hầu như đều đã chết trong các cuộc chiến giằng co trước đó. Do vậy, một số thôn làng nhỏ và vùng nông thôn vẫn trong tình trạng nửa hoang phế, ít dấu chân người; ngay cả thổ man và sơn dân cũng hoạt động ngày càng thưa thớt. Chính vì thế, lần này, cùng với việc dựng lên các điểm tiếp tế lương thực dọc đường xuất chinh, hơn mười thành thị trên tuyến đường này, bao gồm cả các thị trấn và thôn xóm nằm trong phạm vi hai mươi dặm hai bên đường, đều sẽ một lần nữa được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của lưu ty.

Nhưng dù sao đi nữa, một khi tiến vào biên giới Quế Châu, tốc độ hành quân lại trở nên nhanh chóng và thuận tiện hơn hẳn. Dải Lĩnh Tây như được nới rộng ra, các con sông lớn bị kẹp giữa núi non giờ đây như phá vỡ, mở ra một lỗ hổng khổng lồ, khiến địa thế nhanh chóng giảm xuống, trở nên bằng phẳng và rộng lớn vô bờ bến. Dưới những tầng mây thấp bé, vụn vặt, từng cột sáng loang lổ xuyên qua, chỉ thấy những dòng sông lớn trong xanh uốn lượn như rồng cuộn, rắn trườn giữa vô vàn khối đá lởm chởm, hình thù kỳ dị, bị mưa xói mòn mà trắng lốm đốm, nổi bật trên các gò đất, núi đá cô lập. Đây chính là địa mạo karst rộng lớn, điển hình về mặt địa lý, với những dải đồng bằng phù sa lớn nhỏ và các dòng sông đan xen rải rác. Vẻ đẹp tuyệt trần của 'Quế Lâm sơn thủy giáp thiên hạ' mà đời sau ca ngợi, ở nơi đây như vừa được vén ra một góc lụa mỏng.

Xét theo một nghĩa nào đó, đây cũng là Quế Châu – trung tâm hành chính của vùng Quế Quản kinh lược sứ ngày xưa, bao gồm 12 châu và 47 huyện, nơi có dân số đông đúc nhất, thổ sản dồi dào nhất, và là khởi điểm cho sự ổn định của vùng này.

Với sự trợ giúp của một bộ phận nghĩa quân đóng tại huyện Dương Sóc, Thái Bình Quân đã tìm được và trưng dụng rất nhiều thuyền sông và bè tre lớn để vận chuyển hàng hóa. Nhờ đó, từ sáng sớm xuất phát dọc theo hạ lưu sông Quế Giang (còn gọi là Lật Giang), đến trước khi trời tối, họ đã có thể nhìn thấy tường thành của Quế Châu.

Tuy nhiên, cả bốn cửa thành đều đóng chặt, và mặc cho du kỵ quân hô gọi thế nào, trên thành vẫn không có phản ứng, điều này khiến mọi người không khỏi cảm thấy bất ngờ và khó hiểu.

“Lúc ta đến trước đây thì vẫn còn tạm ổn… Còn có vị Vương biệt tướng kia đích thân ra tiễn ở Dương Sóc cơ mà.”

Bản dịch này là tài sản của truyen.free, mời bạn đọc thưởng thức từng câu chữ.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free