(Đã dịch) Khu Mật Viện - Chương 4: Q1. Chapter 2.1. Phò mã áo chàm
Quỷ môn quan quỷ môn quan Thập nhân khứ nhất nhân hoàn Ngạn ngữ cổ Hoa Hạ
Bến Giang Tân Sông Thiên Phù Kẻ Bưởi Phía tây thành Thăng Long
Kẻ Bưởi là vùng ngoại thành phía tây Thăng Long, một vùng đất rộng lớn bát ngát. Nơi đây có hai làng nghề nổi tiếng được chính Thánh thượng ban tên: làng dệt lụa Nghĩa Đô, chuyên cung cấp vải lễ phục, và làng giấy Bái Ân, chuyên làm giấy sắc phong. Ngã ba sông Tô Lịch và Thiên Phù chính là ranh giới giữa nội thành với hai làng ấy, và ngay tại ngã ba sông ấy là bến Giang Tân.
Sông Thiên Phù tách khỏi sông Nhị Hà tại làng Nhật Chiêu, uốn lượn như một dải lụa từ bắc xuống nam, ôm lấy phía tây hồ Dâm Đàn, chảy qua cánh đồng Xuân Đỉnh, qua động Già La rồi hợp lưu với sông Tô ngay tại bến Giang Tân này.
Bến Giang Tân, một cửa ô (hay còn gọi nôm na là ô Bưởi), cùng với cửa Tây Dương – một cửa cống, tạo thành hai cửa ngõ phía tây của thành Thăng Long. Cửa Tây Dương chính là nơi sông Kim Ngưu tách thành một nhánh từ sông Tô Lịch để tạo thành con hào tự nhiên men theo chân đê La Thành phía nam kinh đô. Nếu bến Triều Đông Hòe Nhai được gọi là Đông Bộ Đầu, bến đường bộ đầu tiên ở phía đông kinh thành, thì bến Giang Tân này cũng có thể gọi là Tây Bộ Đầu, và đây là bến đường bộ duy nhất ở phía tây.
Thật ra, phía trên bến Triều Đông Hòe Nhai còn một bến nữa nhưng nay đã đóng, không còn dùng, đó là bến Yên Tĩnh. Bến này vốn là bến bên cửa ô Yên Tĩnh của La Thành, thông thẳng đường xuống cửa bắc của Hoàng Thành. Thời nhà Đường đô hộ, cửa này từng là cửa chính, mọi công trình trong La Thành bấy giờ đều quay mặt về hướng bắc để thể hiện lòng chầu về thiên tử. Đến thời nhà Đinh và nhà Lê, một vị đại thần khai quốc đức cao phúc dày tên là Lưu Cơ, lãnh chức Đô hộ phủ sĩ sư, đã cai quản Đại La hơn bốn mươi năm và từng bước cho chuyển hướng toàn bộ các công trình của tòa đô hộ phủ cũ cùng những công trình khác trong Đại La quay mặt về phía nam, lưng hướng bắc.
Cửa và bến Yên Tĩnh từ đó bị bỏ hẳn, không dùng nữa, thậm chí cửa bắc Hoàng Thành cũng ít được sử dụng. Ngay cả khi sứ phương bắc vào thành cũng phải qua cửa đông hoặc cửa nam. Khu vực phía bắc Hoàng Thành sau đó được kiến thiết thêm hàng loạt cung điện ở hậu cung, như cung Thúy Hoa dành cho các vương phi, cung tần, hay điện Hàm Quang – nơi vua quan ngự để xem đua thuyền trên sông Cái. Giới hạn phía bắc kinh thành vươn tới tận vị trí cũ của chùa Khai Quốc ở thôn Yên Hoa, cũng là giới hạn của thành Long Biên hay Tô Lịch Giang Thành được xây dựng từ thời Lý Nam Đế Lý Bí gần năm trăm năm trước.
Vị đại thần Lưu Cơ sau này trở thành nguyên lão của năm triều vua, ba triều đại, được ví như người đã trao lại chìa khóa thành Đại La cho nhà họ Lý để kiến thiết kinh đô Thăng Long. Bến Triều Đông trở thành bến đường bộ chính yếu đầu tiên trong mười hai bến dọc sông Nhị Hà của kinh thành, gọi là Đông Bộ Đầu. Thánh thượng xuất hành hay hồi cung đều đi qua bến ấy; sau này có lệ quan viên trồng hai hàng cây hòe dọc con đường dẫn ra bến để cầu phúc cho Thánh thượng, cầu quốc thái dân an. Cái tên Hòe Nhai (với chữ viết là Hòa Nhai), con đường trồng đầy cây hòe, ra đời từ đó.
Nếu Đông Bộ Đầu là bến giao thông tổng hợp, thì Tây Bộ Đầu Giang Tân này lại là bến chuyên dùng cho quân sự, bởi con đường từ cửa bến vào Hoàng Thành đi ngang qua khu binh lính đóng quân ở phía tây kinh thành, gọi là khu Thập Tam Trại. Khu mười ba trại lính phía tây này có giới hạn phía đông là dòng Ngọc Hà, bắt nguồn từ ô Thụy Chương, chảy xuôi xuống sát cửa tây Hoàng Thành rồi đổ ra cửa Hào Nam của kinh thành. Đây là khu vực quy hoạch riêng cho việc rèn quân, luyện tướng, cưỡi ngựa, thuần voi, chuẩn bị binh khí, hậu cần của kinh thành; xung quanh các trại là vô số làng nghề, nơi người dân mưu sinh.
Đứng trên những gò đê cao trong nội thành, từ bến Giang Tân nhìn ra sông Thiên Phù, có thể thấy ánh đèn lồng bập bùng từ xa. Chín con thuyền đang dong buồm thẳng tiến về bến Giang Tân. Dẫn đầu là một soái thuyền mười tám tay chèo ở giữa, được hai thuyền mông đồng hộ tống hai bên; sáu lâu thuyền còn lại chia thành hai hàng nối đuôi nhau phía sau. Trên mũi soái thuyền cắm ba lá cờ hiệu: một lá cờ tang, một lá cờ tam giác đỏ thêu hình đại bàng núi màu đen với mào rất dài, và một lá cờ ngũ sắc thêu chữ “Thân” màu đen trên nền xám. Thuyền bọc đồng, sơn son thiếp vàng, thể hiện đây là thuyền của gia tộc có thế lực lớn đến dự tang thiên tử. Trên cột buồm lớn nhất, nơi treo đèn lồng, thấp thoáng bóng đôi chim đại bàng núi bay lượn quấn quýt, nhưng tuyệt nhiên không một tiếng kêu.
Soái thuyền có ba cột buồm lớn, ở giữa và hai đầu. Khoang thuyền chia làm ba tầng sàn, hai bên có bậc thang lên xuống. Mũi thuyền khắc hình đại bàng núi giống như trên lá cờ, và trên mạn thuyền, lính giáp mây đứng mỗi bên năm người. Trên phần sàn mũi thuyền đặt một chiếc bàn lớn và một chiếc ghế bành to. Một người đàn ông to lớn, mặt vuông, mắt xếch, lông mày rậm, râu cằm dài, ăn mặc theo lối miền ngược với áo chàm, đai đen, khoác chiếc áo choàng lông hổ vằn vện, đang ngồi trên ghế. Một thiếu niên trẻ tuổi cũng cao lớn, đôi mắt và cặp lông mày giống người đàn ông kia như đúc, nhưng mũi dài, trán cao, có phần tuấn tú hơn. Chàng cũng mặc bộ đồ chàm, áo choàng đen, buộc khăn ngang trán, đứng hầu phía sau. Bốn người hầu cận mặc áo chàm vạt ngắn, đầu chít khăn, chia hai hàng đứng hai bên.
Người ngồi ghế bành thò tay vào đĩa trên bàn, nơi bày nào xôi ngũ sắc, nào bánh, nào mứt, nào rượu. Ông bốc một miếng mứt đưa lên miệng ăn, rồi một tay mút ngón tay, tay kia vẫy vẫy thanh niên đứng sau, đoạn chỉ lên đôi chim đang bay trên đỉnh buồm, chậm rãi nói: – Loài đại bàng này là loài chim vua, chim chúa. Nó có những nguyên tắc riêng, và không gì có thể làm nó thay đổi được.
Người thanh niên đứng sau buông “Dạ” một tiếng, người đàn ông nói tiếp: – Nó phải bay riêng một tầng trời, không bao giờ bay cùng tầm với những loài sẻ nhỏ, chim yến, chim nhạn hay những loài không thể sánh bằng nó.
Thanh niên chăm chú nhìn theo và gật đầu. Người to lớn trên ghế bành lại tiếp: – Vì tầm nhìn rất xa, khi ở trên cao, nó soi xét con mồi một cách tập trung, yên lặng, cẩn thận và kiên trì. Khi đã quyết định tấn công, con mồi khó lòng thoát được. Tốt nhất đừng có gì chen vào giữa nó với con mồi, bởi nó sẵn sàng xuyên thủng mọi thứ trên đường bay để đạt được thứ mình muốn. – Loài chim vua này đặc biệt thích bão; bão càng lớn, nó lại càng bay, càng bình tĩnh, đạp lên bão để bay cao hơn. Trong khi những loài khác đến lúc đó lại rủ nhau chui vào khe, vào hang mà trốn tránh. Chẳng phải nó được trời ban làm vua của không trung thì còn gì nữa?
Người ngồi ghế ngước lên nhìn thanh niên đứng sau, gật đầu một cái, rồi lại tiếp: – Còn về miếng ăn, nó chỉ ăn thịt tươi, thịt sống, và tốt nhất là thịt tự nó săn được. Hừm, thịt ôi, thịt thiu, thịt cũ thì thà chết đói còn hơn. À mà tất nhiên, nếu có chủ, nó vẫn sẽ ăn cả những thứ chủ nó bón cho, ha ha, như ta đây, ha ha, và con với mế con, ha ha.
Lại ngước lên nhìn thanh niên, chàng thanh niên mở to mắt rất cương nghị nhìn lại vào mắt người đàn ông to lớn đang ngồi, miệng mỉm cười. Người đàn ông lại với lấy bên cạnh một cái ông điếu to bằng bắp tay, thò tay vào túi vải lấy ra một nhúm thuốc lá, thổi lửa từ cái ống mồi bé bằng hai đốt ngón tay, châm đóm rồi từ tốn đốt một điếu.
Rít một hơi thật mạnh, điếu kêu sòng sọc. Ông ta ung dung nhả khói ra nghi ngút, vẻ mặt rất khoan khoái. Người đàn ông vừa nhả khói vừa nói: – Người Tày xứ Lạng ta có linh hồn đại bàng trong máu. Là vương tử xứ Lạng, con phải mạnh mẽ, kiên nhẫn và tinh anh như đại bàng, Thiệu Thái ạ.
Thanh niên nhìn và khẽ nói: – Con đã rõ, thưa pố. Con sẽ luôn ghi nhớ lời pố dạy.
Người đàn ông to lớn ngồi ghế cười lớn rồi vo một nắm xôi ngũ sắc dúi vào tay thanh niên: – Khá, ha ha, thưởng đây, thưởng đây! Hay là ngồi xuống ăn với ta, làm chén rượu đi.
Thanh niên nhẹ nhàng đưa miếng xôi lên miệng ăn rồi nói: – Đồ pố ban con nhất định phải ăn, nhưng xin pố cho con phép không ngồi thù tạc. Trưa con đã ăn rồi, mà lại sắp có việc lớn. Xin hẹn pố hôm sau con xin được tiếp rượu người.
Người đàn ông to lớn đứng hẳn lên, vỗ vai chàng thanh niên trẻ: – Ha ha, khá lắm, khá lắm. Con hơn cha là nhà có gì nhỉ... à... có tốt, đúng là có ăn có học về, ha ha.
Thanh niên mỉm cười cúi đầu khẽ nói: – Là nhà có phúc, con hơn cha là nhà có phúc pố ạ.
– À ừ, phúc, là nhà có phúc. Haha. Người cha cười lớn.
Tiếng cười vẫn còn đang vang vọng thì từ khoang thuyền có tiếng nói của phụ nữ vọng ra, thanh âm vô cùng trong trẻo: – Vâng, hai cha con đại bàng các ông thật là có phúc.
Chàng thanh niên ngước xuống nhìn vào khoang thuyền và mỉm cười nói: – Mế, mế đã lên rồi, mế mạnh giỏi chứ?
Từ trong khoang thuyền, bóng một người phụ nữ bước ra. Người phụ nữ chạc độ ba lăm, ba sáu tuổi, da trắng, mũi cao, mắt đen, môi thắm. Nàng vấn khăn mỏ quạ nhuộm chàm, khuyên vàng đeo tai, khoác áo đối khâm màu xanh lục thẫm viền hoàng kim dài đến hông. Bên trong mặc giao lĩnh lụa đen cuốn đai thổ cẩm, đeo kiềng âm dương vàng, tay cầm quạt lông công cán tròn khắc hoa văn Đồng Cổ. Nàng nhẹ nhàng bước từng bậc lên khoang thuyền, nhìn lên chàng thanh niên, mỉm cười và gật đầu. Đoạn nàng ngước xuống nhìn người cha to béo đang ngồi trên ghế: – Lại áo hổ à, khiếp thế. Sao không mặc bình thường như Thiệu Thái có phải trông nhã nhặn hơn không ông xã?
Người đàn ông to béo bĩu môi: – Ta được Thánh thượng ban ân điển, cho phép mặc trang phục riêng của tộc lên thiết triều thì phải mặc cho đúng vị thế chứ. Trên thiết triều trang trọng, nó phải thế này chứ. Chẳng phải vua tôi dưới xuôi vẫn phải có rồng có chim trên áo đó thôi sao? Ta đã nghe lời bà bỏ bớt nhiều thứ trên người đi lắm rồi đấy.
– Trang trọng gì, trông gớm ghiếc thì có! Mà thôi, tùy ông, đừng đeo cả đống vàng lên người như mấy ông tộc Nùng là được rồi.
Người phụ nữ mỉm cười rồi từ tốn bước lên.
Khoang thuyền chia làm ba cấp: sàn mũi cao nhất là nơi mấy người đang ngồi, rồi đến sàn giữa, và cuối cùng là sàn trệt. Ở sàn giữa, có khoét một hốc vuông tầm năm thước mỗi cạnh, chừa ra lối đi xung quanh. Hố sâu ba thước, bốn mặt thành hố đều mắc hàng rào chìa ra. Dưới hố, giữa thành gỗ bên trái khoang, có một lỗ nhỏ bị chặn bởi cái cửa bằng song mây. Người phụ nữ nhẹ nhàng từng bước đi lên mũi thuyền, chỗ mấy người khác đang đứng ngồi, đoạn nhìn sang mấy người hầu đang đứng, hạ giọng: – Cho con Dăng, con Dời ăn đi rồi còn làm việc, mấy đứa.
Người hầu mặc áo chàm ngắn đứng ngoài cùng khẽ "Dạ" rồi bước ra phía thành bên phải cái hố, gạt một cái cần. Cái cửa nhỏ bên hông hố có cơ quan, hé dần rồi mở hẳn ra.
Từ trong cánh cửa mây, một cái đầu nhọn hoắt đen tuyền, bóng nhẫy thò ra. Sau vài tiếng xì xì và dăm tia nước bắn ra từ hai cái nanh nhọn hoắt trên mõm, một con rắn hổ mang dần dần xuất hiện. Con quái vật nghển cái đầu lên, bành cái mang lớn sau hàm rồi quay đầu qua lại ba phía để cảnh giới. Ánh mắt đầu tiên dừng lại ở chiếc quạt lông công của bà chúa, thứ mang màu lông, mùi lông của loài thiên địch. Nó giật mình trườn vào góc xa của hố để tránh, nhưng vì đã cùng đường nên quay lại nhe nanh đe dọa.
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của truyen.free, mong quý vị độc giả tìm đọc tại địa chỉ gốc.