(Đã dịch) Tỉnh Khẩu Chiến Dịch - Chương 103: chiến hỏa ấp ủ
Có thể thấy, trong thời đại nông nghiệp, một ngôi làng chỉ có thể nuôi được một số lượng hạn chế người không trực tiếp sản xuất. Và người quản lý xã hội, tức là những quan lại nhỏ trong làng cần được đối đãi cẩn trọng, cũng là những người không trực tiếp sản xuất. Người quản lý của Đảng Công Nông tại các thôn làng được chính người dân bản địa tiến cử, đồng thời cũng do học viện nông nghiệp bổ nhiệm và phân công. Họ tham gia quản lý nhưng vẫn xuống đồng làm việc như những người nông dân bình thường, không tách rời khỏi sản xuất. Người quản lý thực sự của chúng ta, những người thoát ly sản xuất, nên ở cấp hương trở lên. Họ phụ trách điều phối việc trao đổi các sản phẩm công nghiệp về nông thôn và nông sản từ nông thôn. Về số lượng, cán bộ quản lý cấp huyện không trực tiếp sản xuất của ta gấp khoảng mười lần so với quan lại Đại Minh. Thế nhưng, hiệu suất của chúng ta lại vượt trội hơn nhiều.
Bởi vì, những người thoát ly sản xuất còn phải kể đến một nhóm người khác: giới sĩ tộc. Từ khi triều Minh bắt đầu khoa cử, mỗi thôn làng đều chú trọng học vấn. Một người nam tử nếu thi đậu cử nhân, ý nghĩa đối với thôn làng còn lớn hơn mười lao động chính. Bởi vì sĩ tộc được miễn nhiều khoản thuế đất, và trong việc phân công lao dịch công trình, họ được ưu ái. Giai tầng này dùng chiêu bài 'không tranh lợi với dân', buộc chính quyền phong kiến nhượng lại quyền quản lý địa phương, rồi tự mình giành lấy quyền lực quản lý địa phương đó. Sau đó, họ tiến hành bước thứ hai: sáp nhập, thôn tính đất đai để thu địa tô. Năm 1644, tô thuế đất đai trung bình ở Đại Minh từ năm phần mười trở lên, có nơi ở Giang Nam đạt đến b��y phần mười. Khối tài sản khổng lồ này giúp các gia tộc sĩ tộc ngày càng lớn mạnh và thoát ly sản xuất. Việc thoát ly sản xuất ở đây không chỉ có nghĩa là giới sĩ tộc không cần lao động, mà còn có thể mua về vô số nha hoàn, người hầu để phục vụ, thuê gia đinh luyện võ bảo vệ họ.
Tuy nhiên, bộ phận nhân khẩu thoát ly sản xuất này chẳng có ý nghĩa gì đối với toàn xã hội. Người phụ nữ thêu thùa, may vá, pha trà, sức lao động của họ chỉ nhằm mục đích giúp các vị 'lão gia', những người quản lý địa phương, thêm phần thoải mái, đôi khi còn vì thể diện, nghi lễ bề ngoài. Thế nhưng, nếu người phụ nữ này vào xưởng may trong xã hội công nghiệp, một ngày lao động sản xuất vải vóc có thể giúp cả trăm người có quần áo, giảm bớt sự tiêu hao nhiệt lượng cơ thể không cần thiết, giúp một trăm người đó dồn nhiều sức lực hơn vào sản xuất.
Lao động trước không có tác dụng gia tăng tài sản xã hội, còn lao động sau lại có thể khiến những người khác trong xã hội làm việc hiệu quả hơn. Hiện tại, phần lớn người dân xã hội chúng ta vẫn đang quanh quẩn ở ngưỡng đủ ăn đủ mặc. Mỗi cá nhân rời xa xã hội đều không thể sống sót một mình. Thời kỳ người tiền sử ở Nam Á mới là thời điểm một người có thể sống tự lập. Một số người sở hữu của cải trong xã hội tuyên bố mình có thể sống thanh cao mà không cần dựa dẫm vào ai. Nhưng quần áo họ mặc, lương thực họ ăn, công cụ họ dùng, thậm chí năng lượng than đá để đun nước đều do toàn xã hội cung cấp. Thế mà bây giờ, họ lại muốn sống thoát ly sản xuất, vượt trên mức sống trung bình của xã hội. Những kẻ trơ trẽn vô liêm sỉ như vậy chính là giai cấp phản động.
Đây cũng là lý do chúng ta có thể chiến thắng triều Minh. Chúng ta đánh đổ không chỉ một vị hoàng đế, mà là cả một giai cấp khổng lồ, thoát ly sản xuất, hưởng thụ quá nhiều tài nguyên xã hội, tồn tại dựa trên sự thống trị của lễ giáo từ hoàng đế trở xuống. Giai cấp thoát ly sản xuất này không phải là quan hệ thuê mướn từ chính phủ, mà là chế độ thế tập cha truyền con nối của các 'lão gia'.
Sắt thép là công cụ thúc đẩy sự thay đổi của thế giới, than đá là nguồn năng lượng vận hành máy móc. Lương thực là nguồn năng lượng giúp con người tư duy và hành động. Đây chính là tài sản nguyên thủy của xã hội hiện đại. Nếu chúng ta điều phối hiệu quả, chúng ta sẽ giành chiến thắng. Nếu trong quá trình điều phối, xuất hiện tình trạng tham nhũng, tư lợi, xem thường kỷ luật Đảng và pháp luật, chúng ta sẽ thất bại." — «Tại Sao Chúng Ta Nhất Định Chiến Thắng» trích từ Nhân Dân Nhật Báo.
Tờ báo này cầm trên tay Vĩnh Thành, bàn tay băng gạc vừa đặt chén nước xuống chậm rãi hạ tờ báo. Từng chữ trong bài báo này, Vĩnh Thành đều đọc kỹ. Về ngữ pháp và cách hành văn còn khá non nớt, nhưng lại mang tính chiến đấu cực cao. Dân chủ cộng hòa, quân quyền, dân quyền, Yếu Quân, Hư Quân hay lập hiến, ngay cả báo chí của Hải Tống hay những người thuộc Đảng Đông Lâm ở Đại Minh cũng đã từng dùng bút danh để tranh luận. Nhưng chưa từng có một bài viết nào trực tiếp chỉ rõ cội nguồn mâu thuẫn trong việc điều phối tài nguyên xã hội như thế này.
Chắc chắn, Quốc hội Đại Minh, thậm chí Quốc hội Hải Tống, tuyệt đối sẽ không có ai dám nói. Ai dám làm rõ trực tiếp rằng các nhà tư bản, chủ trang trại hiện tại, vốn được coi là người quản lý tài sản xã hội với thân phận hợp pháp trong xã hội, tại sao dần dần bành trướng để trở thành những người sở hữu tài sản xã hội?
"Dân vi quý, Xã tắc thứ chi, Quân vi khinh." Các sĩ tử thường tự coi mình là 'dân' để dùng câu này gây áp lực lên Hoàng đế Đại Minh, yêu cầu hoàng thất không tranh giành lợi ích với dân. Giờ đây, làn sóng người của Đảng Công Nông này lại trực tiếp gạt bỏ sĩ tử khỏi định nghĩa về 'dân'. Không chỉ gạt bỏ sĩ tử mà còn đẩy ra ngoài khái niệm 'dân' những nhà tư bản không có kiến thức khoa học kỹ thuật, chỉ có kinh nghiệm quản lý nhưng lại hưởng quyền điều phối toàn bộ doanh nghiệp. Trong lòng Vĩnh Thành bỗng dâng lên một cảm giác sảng khoái khó tả.
Nếu bài viết trên Nhân Dân Nhật Báo này, với những luận điểm về người thoát ly sản xuất trong xã hội, mà xuất hiện cách đây năm năm, hẳn rất khó để được đăng báo. Thế nhưng, quyền lên tiếng trên thế giới này lại thay đổi theo họng súng. Ở một không gian khác, Marx năm đó đã bị các nước quân chủ châu Âu xua đuổi. Hiện tại ở không gian này, quyền lực của quân đội, quyền thân phận, quyền bóc lột của chủ nhà máy đang bị nắm đấm của Đảng Công Nông đánh cho tan tác, và những tư tưởng mà trước đây giai cấp th���ng trị thoát ly sản xuất hằng mong muốn được ghi nhận, giờ đây lại như hồng thủy cuồn cuộn đổ về thế giới này.
Năng lượng. Thế giới thay đổi cần năng lượng để vận hành. Máy móc cần nhiên liệu hóa thạch để vận hành. Còn nhân dân cần lương thực để hoạt động. Trong lịch sử, những cuộc khởi nghĩa nông dân dù có sức mạnh to lớn đến mấy cũng đều không có kết quả lâu dài, cũng bởi vì sự phá hoại, thiếu thốn khâu sản xuất lương thực mà cuối cùng đều tự tan rã.
Mà bây giờ, Cộng hòa bắt đầu công bố kế hoạch năm năm. Hàng loạt công nhân công nghiệp nặng bắt đầu được đào tạo tại vị trí làm việc. Việc đào tạo công nhân không cần quá nhiều công sức. Thứ nhất là phải biết chữ, thứ hai là phải hiểu rõ quy trình làm việc, biết mình cần chú ý gì trong từng công đoạn cụ thể. Vì công việc ít thay đổi, việc kiếm sống không hề khó.
Điều thực sự phức tạp là làm sao để những người làm công việc đơn giản này gắn kết lại với nhau, tạo thành một hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh. Tiêu chuẩn công nghiệp này Cộng h��a đã có, đó chính là món quà mà Triệu Vệ Quốc đã mang đến cho nhân dân vùng đất này. Sau Cách mạng ở không gian của Nhậm Địch, Nga đã xua đuổi các nhà tư bản, thẳng tay trục xuất tầng lớp tư sản Nga có nhiều nhà khoa học. Thế nhưng, sau khi trục xuất và các nhà máy bị ngoại bang phá hủy, chỉ sau vài kế hoạch năm năm, Nga vẫn khôi phục thành công một cường quốc công nghiệp. Bởi vì tiêu chuẩn kỹ thuật của Nga vẫn còn đó.
Ở không gian của Nhậm Địch, khi còn bé thường nghe nói về phương pháp 'thổ' trong khoa học kỹ thuật. Chữ 'thổ' trong 'phương pháp thổ' ở đây nghe có vẻ mang nghĩa tiêu cực. Thế nhưng, bất kỳ ai am hiểu lịch sử công nghiệp đều biết rằng, cái gọi là 'phương pháp Tây', máy móc 'Tây' tiên tiến, đều bắt nguồn từ những phương pháp ban đầu đơn giản, trông có vẻ 'thổ' hơn của nước ngoài. Qua từng bước thử nghiệm, cải tiến, người ta dùng 'phương pháp thổ' để từng bước chế tạo ra máy móc hiện đại hơn, từ đó hình thành hệ thống khoa học kỹ thuật 'Tây' tiên tiến. Cho nên, việc so sánh thành tựu tái thiết công nghiệp của Tây Âu và Nhật Bản sau chiến tranh với việc xây dựng hệ thống công nghiệp của Trung Quốc mới là một sự so sánh không công bằng. Họ không cần phải thử nghiệm hàng trăm mẻ thép mới để tìm ra một tiêu chuẩn. Không cần phải hạ nhiệt độ hàng vạn lần, canh thời gian chính xác đến từng mili giây để đảm bảo độ chính xác của một quy trình làm việc. Chỉ cần nhà nước đầu tư tài chính, họ có thể từng bước dùng chính kinh nghiệm sản xuất máy móc từ những nhà máy 'thổ' của mình theo lịch sử công nghiệp để tái thiết hệ thống công nghiệp.
Từ đây cũng có thể thấy được Triệu Vệ Quốc đã mang đến cho thế giới này điều gì. Đương nhiên, hiện tại tài năng hậu cần của Nhậm Địch có đóng góp xếp thứ hai. Chi phí gia công vật liệu sắt thép trực tiếp giảm xuống cực kỳ nhỏ. Khi Liên Xô phát triển công nghiệp, họ dùng số tiền sản xuất được từ một nhà máy thép để mua máy móc từ một nhà máy thép ở châu Âu. Còn bây giờ, có Nhậm Địch ở đây, việc trực tiếp gia công nguyên vật liệu để chế tạo còn nhanh hơn cả mua. Hiệu qu�� rèn đúc bằng máy ép thủy lực cỡ lớn, nay có thể thực hiện chỉ với một lần rèn bằng máy ép thủy lực cỡ nhỏ. Thời gian ngắn hơn, hiệu quả tốt hơn. Đây chính là hiệu quả của việc tạm thời thay đổi thuộc tính vật liệu. Không cần tiêu hao lượng lớn than đá để làm nóng chảy hay làm mềm vật liệu. Việc rèn dập trực tiếp đã giảm đi đáng kể chi phí nhiên liệu.
Hoài Bắc đang có xu hướng phát triển thành một khu công nghiệp siêu cấp. Toàn bộ Hoài Bắc bắt đầu thu hút lượng lớn nhân khẩu nông thôn, biến họ thành lực lượng lao động công nghiệp. Đi kèm là phân bón hóa học, máy móc sắt thép, và động cơ hơi nước nhiệt lại được đưa về nông thôn. Phải biết rằng trước đây, để Cộng hòa thu hút nhân khẩu vào hệ thống công nghiệp, thường phải dùng một lượng lớn lương thực để trao đổi. Giờ đây, lượng lương thực này không bị hao hụt. Ngược lại, nó càng thúc đẩy hiệu quả hơn, khơi dậy tinh thần nhiệt huyết của công nông, những người vừa trở thành chủ nhân trong công cuộc kiến thiết.
Mọi vấn đề có thể giải quyết bằng sức lao động đều không phải là vấn đề, chỉ cần có lương thực. Mọi thiếu thốn về năng lượng cơ giới để sản xuất, trong mắt Nhậm Địch – vị quan diễn biến này, cũng không phải là vấn đề. Trên nền tảng đường sắt Đại Minh, người ta dùng than từ các mỏ làm nguồn năng lượng sản xuất thuốc nổ, đục những mảng đá vôi lớn trên núi, sau đó đưa vào lò nung xi măng, dùng nhiệt lượng từ than đá để đốt cháy, trộn với thạch cao và đất sét theo tỉ lệ, biến thành xi măng. Xi măng này được đúc vào khuôn thép, qua quá trình hấp hơi nước, biến thành các tà vẹt bê tông cốt thép. Vào thời gian nông nhàn sau mùa vụ, người dân tệ có thể mua các sản phẩm công nghiệp nhẹ được dùng để thuê nông dân nhàn rỗi ở đó tham gia xây dựng đường. Trong thời đại mà mức thu nhập còn chưa cao, chi phí trả cho người dân bản địa thực sự rất ít ỏi.
Thế nhưng, tốc độ kéo dài đường sắt thực sự rất nhanh. Dưới sự hỗ trợ của động cơ hơi nước hiện tại, Nhậm Địch xử lý khối thép thành đường ray với hiệu suất khoảng năm nghìn tấn mỗi ng��y (Nhậm Địch mở tối đa trường lực. Thép được làm mềm chỉ trong chưa đầy mười giây. Mặc dù vẫn còn tương đối cứng, nhưng dưới tác dụng của động cơ hơi nước đã trở nên rất dễ xử lý). Hiện tại, khoảng cách giữa hai thanh ray tiêu chuẩn của Cộng hòa là 1435mm (độ rộng này là tiêu chuẩn của Hải Tống và cũng là tiêu chuẩn của Đại Minh. Để kết nối với các tuyến đường ray cũ, Cộng hòa chỉ có thể áp dụng tiêu chuẩn này). Một mét đường ray đơn nặng 50 kilogram được xếp vào loại ray nặng. Với khả năng xử lý đường ray của Nhậm Địch mỗi ngày, ước chừng có thể xây dựng năm mươi km đường sắt. Nhậm Địch có lẽ đã bận rộn trong khoảng ba mươi ngày để hoàn thành công việc này. Nhiệm vụ chính là Triệu Vệ Quốc phân công. Cuối cùng, tuyến đường sắt xuyên qua Hà Nam, nối với Tây An và đến Lan Châu đã được thông suốt trên nền tảng đường sắt sẵn có của Đại Minh.
Nói cách khác, huyết mạch giao thông chính của Tây Bắc dưới sự kiểm soát của Cộng hòa đã hình thành. Quân khu Lan Châu đã bắt đầu hình thành, và lực lượng quân sự Tây Bắc do Vân Thần Hòa lãnh đạo sẽ có sự 'lột xác' vào năm 1705. Còn Nhậm Địch, hiện tại đang tích trữ lương thực, đạn dược và xây dựng đường sắt hướng về phía bắc, nhằm giảm thiểu chi phí vận chuyển trong các cuộc chiến tranh tương lai. Khu vực phía nam của các tỉnh Dự, Lỗ, Tấn có lượng lớn nhân khẩu đủ sức để Cộng hòa xây dựng thêm quân đoàn Hoa Bắc. Lực lượng quân sự do Nhậm Địch kiểm soát sẽ đạt ba mươi vạn người. Hỏa lực sẽ được trang bị hai ngàn khẩu pháo. Đồng thời, lượng lớn phi công của Cộng hòa cũng sẽ tiến về phía bắc.
Chiến tranh ở phương Bắc sắp bùng nổ.
Dù là ngôn từ đã được chắt lọc, truyen.free vẫn là đơn vị sở hữu quyền của bản chuyển ngữ này.