(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 30: Dodoma
Dodoma là điểm đến đầu tiên của Đội Một thuộc Đoàn tiền phong Đông Phi. Trong khi các đội khác vẫn còn đang trên đường hành quân, Đội Một đã bắt tay vào xây dựng căn cứ tại đây.
Nằm ở độ cao 1.100 mét so với mực nước biển, Dodoma có khí hậu mát mẻ cùng địa hình đồi núi thấp đa dạng, nằm gần thượng nguồn sông Wami. Vùng đất này từng là trạm dừng chân quan trọng cho các đoàn thương nhân trên tuyến đường từ bờ biển Swahili đến hồ Zollern (mà trong lịch sử chính là hồ Tanganyika), và trong kiếp trước, đây còn là trung tâm đường sắt lớn của Tanzania. Chính vì thế, vị trí địa lý của Dodoma mang một ý nghĩa đặc biệt.
Thông qua Dodoma, hàng hóa cập cảng từ Dar es Salaam có thể dễ dàng trung chuyển đến các cứ điểm sâu bên trong thuộc địa Đông Phi, đồng thời tạo tiền đề thuận lợi cho những đợt nhập cư tiếp theo.
Với lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 600 mm và nhiệt độ dao động từ 15-30°C quanh năm, Dodoma là nơi vô cùng lý tưởng để con người sinh sống.
Lợi thế này tạo điều kiện thuận lợi lớn cho Đội Một của đoàn tiền phong. Trước khi mùa mưa tới, họ đã dùng bật lửa dầu hỏa của tập đoàn Hechingen để đốt cháy các đồng cỏ.
Những cơn gió đông nam thổi bùng ngọn lửa lan rộng về phía tây bắc, khiến nhiều loài thú hoảng loạn bỏ chạy. Những con không kịp thoát thân đã trở thành bữa thịt nướng thơm lừng cho binh sĩ. Từng miếng thịt thú rừng được nướng trên lửa, mỡ chảy tí tách, tỏa hương thơm quyến rũ, ăn kèm với chuối rừng hái được thì thật là hấp dẫn.
Sau khi ngọn lửa tàn, lớp tro thực vật giúp trung hòa độ axit của đất. Hơn 500 di dân đi cùng đội ngũ tiên phong liền bắt đầu cày xới để canh tác.
Khu vực quanh Dodoma cũng có các bộ lạc bản địa sinh sống – nơi đây từng là điểm giao thương giữa họ và các thương nhân Ả Rập. Khi nhìn thấy Đội Một tiền phong tiến đến với vũ khí trong tay (dù người Ả Rập cũng có vũ khí, nhưng không nhiều), bản năng đã khiến họ lập tức cảnh giác với những người lạ mặt.
Điều đặc biệt là nơi đây rất hiếm khi xuất hiện người Đông Á. Người bản địa phần lớn là hậu duệ của dân tộc Bantu di cư từ Tây Phi cách đây vài thế kỷ, sở hữu làn da đen sẫm. Họ đã từng tiếp xúc với người da trắng và người San ở Đông Phi, nhưng Đội Một lại có nước da nằm giữa hai sắc tộc này, cộng thêm bộ trang phục chưa từng thấy – chỉ cần nhìn từ xa cũng đủ nhận ra sự khác biệt.
Trước mắt, Đội Một không có ý định gây xung đột với các bộ lạc bản địa. Dù sao họ cũng chỉ vừa đặt chân đến, nên việc ưu tiên hàng đầu là ổn định và xây dựng doanh trại trước đã.
May mắn thay, vào thời điểm này, Đông Phi vẫn còn trong tình trạng "đất rộng người thưa". Dân số cả vùng thảo nguyên Tanzania cộng lại có lẽ còn ít hơn cả vùng thảo nguyên Mông Cổ.
Người Mông Cổ còn biết chăn nuôi ngựa, cừu, trong khi dân bản địa ở đây phần lớn vẫn sống dựa vào săn bắt hái lượm. Với năng suất lao động thấp như vậy, dân số không thể đông đúc được.
Chưa kể, các thương nhân Ả Rập còn thường xuyên kích động các bộ lạc gây chiến để dễ dàng buôn bán nô lệ. Vì thế, những năm gần đây, dân số Đông Phi thậm chí còn đang suy giảm.
Trong tương lai, Tanzania có thể đạt đến 50 triệu dân chủ yếu là nhờ công của người Đức và người Anh. Dù động cơ của những kẻ thực dân không hoàn toàn tốt đẹp, nhưng thực tế họ đã đưa các "dân tộc bán khai" này bước vào thời đại nông nghiệp.
Sau khi châu Phi độc lập, không còn sự kiểm soát của thực dân, cùng với năng suất lao động tăng cao, dân số các nước đã bùng nổ. Ví dụ, Tanzania những năm 1960 chỉ có hơn 10 triệu người, nhưng trước khi Ernst xuyên không, con số này đã gần 60 triệu và tỉ lệ sinh vẫn tiếp tục tăng cao.
Tính đến thời điểm hiện tại, Ernst ngờ rằng dân số trên toàn bộ lãnh thổ Tanzania rộng 940.000 km² thậm chí còn chưa đạt đến 5 triệu người.
Trong kiếp trước, Đông Phi thuộc Đức, sau hàng chục năm phát triển cho đến trước Thế chiến thứ nhất, cũng chỉ có hơn 7 triệu người – con số này đã bao gồm cả Rwanda và Burundi, vốn là hai khu vực có mật độ dân số cao.
Đó là lý do Ernst dám nhắm đến thuộc địa Đông Phi. Ở kiếp trước, chỉ một số huyện ở quê hương cũ của hắn đã có gần 1-2 triệu dân.
Nếu nói di dời cả một quốc gia thì sẽ bị coi là hoang tưởng, nhưng chỉ vài huyện thì vẫn nằm trong khả năng.
Với khả năng huy động của quê nhà ở kiếp trước – như các dự án điều tiết nước Bắc Nam, đập Tam Hiệp, v.v... – việc di dời dân số quy mô lớn trong thời gian ngắn là điều hoàn toàn khả thi.
Hiện tại, Ernst vẫn còn rất nhiều thời gian. Nếu trong 30-50 năm tới có thể từ từ "tiễn" người bản địa sang những vùng đất khác, thì vấn đề sắc tộc ở Đông Phi xem như đã được giải quyết xong.
Còn giữa người Hoa và người da trắng thì dễ xử lý hơn nhiều – ít nhất Ernst tin là vậy. Sự hòa nhập dân tộc là điều có thật, như trường hợp Brazil, nơi mọi người đều nghèo đến mức chẳng còn sức đâu mà kỳ thị sắc tộc. Trong khi đó, ở Mỹ – một quốc gia phát triển cao – lại suốt ngày mượn cớ sắc tộc để chuyển hướng mâu thuẫn xã hội.
Một ví dụ tích cực khác là Cuba – Ernst rất ngưỡng mộ chính phủ nước này, nơi mọi sắc tộc sống hòa thuận dưới một thể chế chung. Nếu là các quốc gia tư bản nhỏ khác, có lẽ họ đã đánh nhau vỡ đầu từ lâu rồi.
Tất nhiên, cũng có những ví dụ tiêu cực như Nam Tư. Không phải Ernst kỳ thị, nhưng cậu cho rằng sự tan rã của quốc gia này là do giới lãnh đạo yếu kém, không giữ vững lập trường, không phát huy ưu thế quốc gia, rồi cuối cùng… chết chìm giữa thỏa hiệp và tự do. (Ernst chợt rùng mình vì sợ hãi khi nghĩ đến điều này).
Thôi không nói xa nữa… Dù sao, Ernst tin rằng mình có thể giải quyết được vấn đề này. Sống nhiều năm trong một quốc gia với 3.000 năm tập quyền và 2.000 năm đại nhất thống, ít nhiều cậu cũng đã học được vài chiêu trò.
Ernst còn cho rằng chế độ phong kiến phân quyền thời Tây Chu thậm chí còn mạnh hơn cả tập quyền phương Tây – bởi dù sao, Chu vương thất trên danh nghĩa vẫn là "thiên hạ cộng chủ". Trong khi đó, ở châu Âu, ai cũng tự nhận mình là La Mã, đã trải qua hai trận thế chiến mà vẫn không thể tạo ra một Liên minh châu Âu vững chắc.
Chỉ có duy nhất Nga là quốc gia châu Âu mang tư tưởng tập quyền từ tầng lớp thấp nhất đi lên, nên việc người Mỹ sợ Nga cũng là điều dễ hiểu – vì Nga thực sự có khả năng thống nhất toàn bộ châu Âu.
Hôm nay, nhiệt độ ở Dodoma khoảng 23°C. Trang phục của di dân người Hoa đều là quân phục Phổ. Trước đó, tại Thị trấn Thứ Nhất (First Town), môi trường nóng ẩm đã khiến quần áo trở nên bí bách, khó chịu, nhưng khi đến Dodoma thì lại vừa vặn, vô cùng dễ chịu.
Tinh thần của những người di dân rất tốt, nhưng các chỉ huy vẫn hết sức thận trọng. Trong mắt người châu Âu xưa, châu Phi từng bị coi là “lục địa bị nguyền rủa” – bởi bệnh nhiệt đới hoành hành dữ dội, nên các thực dân thường chỉ dám hoạt động ở ven biển, không dám tiến sâu vào nội địa.
Chính vì thế, Ernst cực kỳ coi trọng vấn đề y tế trong thuộc địa, đồng thời đưa ra một loạt giải pháp thiết thực:
* Nước uống phải đun sôi kỹ; * Không ăn thịt thú hoang còn tái hay chưa nấu chín; * Không tiếp xúc với rắn, ếch, do nhiều ký sinh trùng; * Phải khử trùng định kỳ; * Phòng tránh muỗi đốt; * Chất thải phải thu gom và xử lý hợp lý…
Đây là những nhiệm vụ hằng ngày của cán bộ thuộc địa. Đặc biệt, họ phải quản lý nghiêm ngặt chuyện ăn uống của di dân – vốn là một dân tộc "ham ăn", lại thường xuyên trải qua đói kém, nên họ rất giỏi tìm mọi cách để ăn bất cứ thứ gì có thể.
Tuy nhiên, thực phẩm ở thuộc địa Đông Phi vẫn khá dồi dào. Nếu không có gì để ăn, họ vẫn còn chuối rừng và hoa quả để no bụng – không cần thiết phải tìm đến những loài vật kỳ lạ. Hơn nữa, những loài động vật ăn cỏ lớn trên thảo nguyên như ngựa vằn, linh dương… đều có thể được tổ chức săn bắt một cách bài bản.
Ban đêm, vùng Dodoma trời quang mây tạnh, muôn vàn vì sao lấp lánh phủ kín bầu trời. Nhiệt độ bắt đầu giảm nhẹ. Sau một ngày lao động vất vả, những người di dân nằm trên chiếc giường gỗ đơn sơ, yên tâm chìm vào giấc ngủ sâu.
Bản quyền nội dung chương truyện này thuộc về truyen.free, kính mong quý độc giả tiếp tục đón đọc.