(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 50: Giáo dục
Ngày 9 tháng 12 năm 1866.
Hôm nay tại Hechingen, một ngôi trường nữa được khánh thành – Trường Văn hóa Hechingen. Thực chất, đây là một trường tiểu học, khác với Học viện Quân sự Hechingen ở chỗ, ngoài việc tuyển học viên người Hoa, trường còn tuyển sinh cả người bản địa Hechingen.
Suy cho cùng, nếu đã học tại Học viện Quân sự Hechingen thì rốt cuộc cũng sẽ phải đến Đông Phi. Cha mẹ người Đức nào lại muốn vội vàng đưa con mình sang châu Phi chứ?
Do đó, ngoài học viên người Hoa, học viên người Đức tại Học viện Quân sự Hechingen chủ yếu là trẻ mồ côi từ khắp các vùng của Đức.
Ngược lại, Trường Văn hóa Hechingen thì khác. Đây là một trường học chính quy, trong khi Học viện Quân sự Hechingen thực chất lại là một “Đại học vỉa hè”.
Học viện Quân sự Hechingen không nằm trong hệ thống giáo dục chính quy của Phổ, nguồn tuyển sinh hoàn toàn do học viện tự chủ quyết định, và hướng đi sau khi tốt nghiệp cũng đã được định sẵn.
Còn Trường Văn hóa Hechingen đã đăng ký với chính quyền Phổ. Học sinh người Hoa ở đây đều được theo học dưới danh nghĩa “du học sinh”.
Học viên của Học viện Quân sự Hechingen có thể được Ernst cấp hộ tịch thuộc địa Đông Phi, trong khi học viên người Hoa tại Trường Văn hóa Hechingen thì trong hồ sơ của chính quyền Phổ vẫn được ghi là người Hoa.
Suy cho cùng, những học sinh người Hoa này sau này còn cần tiếp tục học lên các cấp cao hơn tại Đức. Nếu không có giấy tờ tùy thân do chính phủ cấp, trên lý thuyết họ sẽ trở thành “người không quốc tịch”. Do đó, danh nghĩa du học sinh được sử dụng để hợp thức hóa, còn Ernst đứng ra làm người bảo lãnh.
Học viện Quân sự Hechingen chỉ đáp ứng nhu cầu nhân lực quân sự, trong khi Ernst cần nhân tài chuyên môn trong mọi ngành nghề trong tương lai.
Để tối ưu hóa nguồn lực giáo dục có hạn, học viên có thành tích học tập xuất sắc có thể tiếp tục học tại các trường trung học ở Đức, đồng thời Ernst cũng đang ấp ủ kế hoạch thành lập một trường trung học của riêng mình.
Sau đó, những người xuất sắc nhất sẽ được Ernst tiến cử vào các trường đại học ở Đức để theo học.
Còn những người học kém, sau khi tốt nghiệp chỉ có thể vào nhà máy của Ernst làm công nhân phổ thông, hoặc cũng có thể đăng ký vào Học viện Quân sự Hechingen, để rồi đến Đông Phi làm lính, hoặc trở thành giáo viên tiếng Đức.
Hiện nay, vùng Duyên Hải đã bắt đầu thí điểm chương trình giáo dục tiếng Đức. Trường tiểu học tiếng Đức đầu tiên đã được thành lập tại Trấn thứ Nhất. Thuộc địa Đông Phi yêu cầu tất cả người Hoa nhập cư tại Trấn thứ Nhất phải đ��a con em đến theo học tại ngôi trường này.
Giáo viên của trường chính là các học viên tốt nghiệp từ Học viện Quân sự Hechingen, giáo trình cũng là sách giáo khoa mà họ từng sử dụng.
Đối với vấn đề giáo dục người nhập cư, tất nhiên phải bắt đầu từ thế hệ trẻ. Thế hệ người nhập cư lớn tuổi không nhất thiết phải thông thạo tiếng Đức, chỉ cần nắm vững vài từ giao tiếp cơ bản là đủ.
Những người Hoa trưởng thành này tư duy đã định hình rõ nét, cũng đã vượt qua độ tuổi tiếp thu kiến thức tốt nhất. Nếu muốn xóa mù chữ một cách toàn diện, chi phí bỏ ra sẽ vô cùng lớn, trong khi hiệu quả đạt được chưa chắc đã như mong đợi.
Chỉ cần khiến họ nhận thức được rằng tiếng Đức chính là tương lai của thuộc địa, thì những người nhạy bén sẽ tự giác học tiếng Đức.
Thực tế, một số người nhập cư nhạy bén đã nhanh chóng học được những câu tiếng Đức đơn giản thông qua tiếp xúc với quan chức thuộc địa, và nhờ đó được cất nhắc vào các vị trí cán bộ quản lý.
Đối với người nhập cư trong thuộc địa, việc cho con cái đi học không tạo ra gánh nặng tâm lý nào. Dẫu sao cũng có câu: "Vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao."
Giới quan lại ở Viễn Đông đã dùng sự độc quyền về tri thức và giáo dục để khóa chặt con đường thăng tiến của dân chúng. Như trong các vở kịch dân gian thường nói: "Chỉ cần đỗ Trạng nguyên, muốn gì được nấy." Dân thường dù chưa từng ăn thịt lợn, cũng từng thấy lợn chạy qua.
Những cử nhân, tú tài và quan lại bản xứ – những người thành danh nhờ con đường học vấn – đều gặt hái lợi ích thiết thực. Dù chỉ là tú tài, họ vẫn có thể nhờ việc dạy học mà thoát ly được lao động chân tay, chưa kể đến các đặc quyền về thuế và địa vị xã hội được nâng cao.
Giáo dục tại thuộc địa Đông Phi dĩ nhiên không phải là kiểu giáo dục thi cử để tuyển chọn quan lại như ở Viễn Đông, mà đơn giản là phổ cập kiến thức cho con em di dân bình thường.
Tất nhiên, ở giai đoạn đầu, những ai tiếp cận sớm với giáo dục bắt buộc sẽ càng hưởng nhiều lợi ích – chẳng hạn như các vị trí công việc tốt tại thuộc địa chắc chắn sẽ ưu tiên cho những người đã được đào tạo trong hệ thống giáo dục của thuộc địa.
Trong tương lai, khi giáo dục bắt buộc được phổ cập rộng rãi khắp Đông Phi, thì loại lợi ích này sẽ dần phai nhạt, và việc học sẽ trở thành điều kiện tối thiểu.
Chương trình học tại ngôi trường đầu tiên ở Đông Phi thực tế rất đơn giản: ngoài dạy tiếng Đức, chỉ bao gồm các phép toán cộng, trừ, nhân, chia cơ bản, và cuối cùng là giáo dục tư tưởng “trung quân ái quốc”.
Vì vậy, các em học sinh mỗi ngày chỉ học nửa buổi, buổi sáng học tại trường, buổi chiều vẫn có thể về nhà giúp đỡ gia đình.
Để cải thiện chất lượng cuộc sống, người nhập cư thường làm thêm các công việc phụ để tăng thu nhập, như trồng rau quanh nhà hoặc nuôi gà vịt. Thuộc địa không can thiệp vào những việc này.
Chỉ cần hoàn thành công việc được phân bổ đúng thời hạn, thời gian còn lại họ có thể tự do sắp xếp. Do Đông Phi có đất đai rộng rãi, nên vẫn còn rất nhiều diện tích đất nhàn rỗi.
Chẳng hạn, nhà cửa của người nhập cư không chật chội như ở Viễn Đông, mà được bố trí khá phân tán. Trong quy hoạch, mỗi căn nhà đều được chừa ra hai khoảng đất phía trước và phía sau: một để làm vườn, một để làm kênh thoát nước.
Khái niệm “vườn hoa” đối với người Hoa nhập cư là điều xa lạ. Thay vào đó, đất đai ấy được họ tận dụng để trồng rau. Kênh thoát nước đặt sau nhà, thực tế không chiếm quá nhiều diện tích. Chỉ cần xới đất bên cạnh mương nước lên là có thể trồng thêm hoa màu.
Những khoản thu nhập tăng thêm từ việc tận dụng đất trống đều thuộc về người di dân, mà không phải nộp lên cho thuộc địa.
Chỉ có nơi ở của người Đức là thực sự có vườn hoa và bãi cỏ ở phía trước, còn khoảng đất phía sau kênh thoát nước thì để hoang.
Điều này chỉ thể hiện sự khác biệt về thái độ sống giữa hai nhóm người. Hơn nữa, tiền lương của người Đức cao hơn, công việc cũng nhàn hơn.
Người Đức cũng tỏ ra tò mò khi thấy người Hoa nhập cư trồng rau trong vườn. Đôi khi họ chủ động hỏi người Hoa về loại rau củ hay công dụng của dụng cụ mà họ đang sử dụng.
Người Hoa nhập cư không hề đến tay trắng. Thuộc địa không tịch thu đồ đạc của họ, nhưng những vật quá cồng kềnh thì không thể mang theo.
Một số người Hoa mang theo hạt giống thực vật trong túi áo, và thế là chúng được mang tới Đông Phi, khiến trên đất châu Phi xuất hiện đủ loại rau củ từ Viễn Đông.
Đất đai châu Phi rất thích hợp cho sự sinh trưởng của rau màu. Suy cho cùng, rau củ về bản chất cũng là một loại cỏ, mà châu Phi lại rất phù hợp cho cỏ phát triển, và chính vì thế mới sở hữu những thảo nguyên cây bụi rộng lớn nhất thế giới.
Ở đây không có mùa đông, chỉ cần đảm bảo đủ nguồn nước thì cây cối sẽ không ngừng sinh trưởng.
Giữa người Đức và người Hoa nhập cư còn có những khác biệt về nhận thức. Người Đức rất coi trọng không gian riêng, nếu chưa được phép thì người khác không thể tự tiện bước vào sân nhà họ. Trong khi đó, người Hoa lại thường xuyên sang nhà nhau chơi, không có khái niệm “lãnh địa” rõ ràng.
Người Hoa cũng không chủ động vào sân nhà người Đức, vì họ vốn cảm thấy mình ở vị thế “thấp hơn một bậc”. Thực ra, những người Đức này cũng không hề có tư tưởng ngạo mạn. Sau khi tiếp xúc với người Hoa, họ có ấn tượng khá tốt, bởi suy cho cùng ai cũng là nông dân xuất thân, chỉ cần trao đổi chút kinh nghiệm trồng trọt là họ đã có thể cảm thấy gần gũi ngay lập tức.
Người Hoa nhập cư không còn để tóc đuôi sam; họ chăm chỉ và sạch sẽ – tất cả đều là kết quả từ quy định nghiêm ngặt của thuộc địa, mà người Hoa lại rất tuân thủ, nhờ vậy đã che lấp được một số khuyết điểm ban đầu.
Còn người Đức ở thuộc địa Đông Phi cũng phần lớn là những người dân quê vùng Phổ, không quá chú trọng đến tiểu tiết.
Khác biệt duy nhất giữa hai bên là người Đức đã được trải qua giáo dục bắt buộc, nên có trình độ văn hóa tương đối cao – tuy chỉ ở trình độ tiểu học – nên phẩm chất cũng chỉ ở mức độ nhất định.
Người Hoa nhập cư trong mắt những người nông dân Đức này khá dễ giao tiếp. Tư duy của nông dân bình thường vốn chất phác, không hề quanh co phức tạp.
Không giống như một số người sau này ra nước ngoài lại tùy tiện hái hoa, bẻ cành trong sân nhà người khác. Khi bị phê bình, họ lại giả vờ oan ức, lý sự cùn. Nói họ vô học thì không đúng, v�� họ cũng đã ra nước ngoài, chắc chắn học vấn của họ không thấp – Do đó, học vấn và phẩm chất không nhất thiết phải tỷ lệ thuận với nhau.
Đây là tình cảnh mà người Hoa thường gặp phải ở các nước phát triển. Khi Ernst ở châu Phi, người Hoa đúng là bị người người chê bai, chó chó ghét bỏ. Tại công trường nơi Ernst làm việc, có rất nhiều công nhân người Hoa đến từ quê nhà.
Trình độ học vấn của họ không cao. Hầu hết những người Ernst quen biết chỉ học hết cấp hai hoặc cấp ba, nhưng khi ở châu Phi lại coi người bản địa như trò đùa.
Họ mỗi ngày đều tỏ ra ngạo mạn, cho trẻ em bản địa một ít kẹo bánh, dạy vài câu “ngốc nghếch”, quay clip rồi đăng lên mạng xã hội, tỏ ra vẻ bề trên.
Nhưng thực ra, dân bản địa nào có coi họ ra gì đâu? Thậm chí có khi còn xem họ là lũ ngốc.
Dù Ernst cũng chẳng quý gì người bản địa, nhưng nền giáo dục từ quê nhà khiến Ernst không thể nào có những hành vi thất lễ như vậy được – những hành động quá rẻ tiền.
Thế nhưng, ở thời đại này, vì quốc lực yếu kém, đời sống nhân dân khốn khó, lại chịu ảnh hưởng từ nền giáo dục nô lệ, người Hoa nhập cư ra nước ngoài nào dám tỏ ra ngạo nghễ như thế hệ sau.
Sự cẩn trọng, rụt rè mới là chân dung thực tế của họ; chính vì vậy, người Hoa nhập cư sẵn sàng nhường nhịn để giữ hòa khí, nhờ đó có thể chung sống hòa thuận với người Đức.
Bản quyền văn bản này thuộc về truyen.free, xin vui lòng không sao chép dưới mọi hình thức.