(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 80: . Quyết chiến giờ Mùi.
Cách Hoành Sơn quan khoảng 20km về phía bắc, trên một cánh đồng rộng lớn, quân Vạn Xuân đã dàn trận chờ sẵn. Từng khối bộ binh vuông vức dàn trải dài hàng dặm. Phía sau là ba trận địa pháo, lên đến hàng trăm khẩu, sẵn sàng trút bão lửa xuống đầu quân Minh.
Đi đầu là lực lượng bộ binh hạng nặng, bao gồm những lính chính quy và lê dương tinh nhuệ nhất, đã trải qua nhiều năm huấn luyện, kinh qua không ít trận chiến khốc liệt trên các đồng cỏ phương Bắc hay hải đảo phương Nam. Ai nấy đều kiêu dũng, thiện chiến, tuyệt đối phục tùng kỷ luật, được trang bị tận răng với giáp trụ kiên cố, khiên cứng, thực sự là những cỗ máy giết người trên chiến trường.
Sát cánh cùng họ là cung thủ và lính bắn súng. Cung thủ vốn là lực lượng quen thuộc trên khắp các chiến trường thế giới, và cung thủ Vạn Xuân cũng không ngoại lệ. Cung của họ được chế tác tinh xảo bằng công nghệ Mông Cổ, cứng cáp, cho phép bắn xa, với tầm bắn từ 182 đến 275m. Dù tầm bắn có phần kém hơn cung của Thổ Nhĩ Kỳ hay Anh quốc, nhưng chúng vẫn thuộc hàng bá chủ khu vực, vượt trội hoàn toàn so với cung của Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc. Ngoài ra, họ còn được trang bị thêm giáp ngực nhẹ, mũ sắt và gươm để cận chiến.
Về phần lính bắn súng, dù mới chỉ là một binh chủng trợ chiến, nhưng với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của hỏa khí, sớm muộn họ cũng sẽ trở thành lực lượng nòng cốt trên chiến trường. Khác với các đơn vị Điểu thương thủ (hay Thần Cơ Doanh sau này của nhà Minh) đang được trang bị súng hỏa mai đời đầu, thuộc loại đơn giản nhất, dùng dây cháy chậm, gần như chỉ là một ống phóng thô sơ chưa thể gọi là súng, thì lính bắn súng của quân Vạn Xuân lại được trang bị súng hỏa mai loại Flintlock musket (súng kíp). Dù súng vẫn còn cồng kềnh do công nghệ chưa đạt chuẩn cả trong luyện kim lẫn chế tạo thuốc nổ, nhưng đây vẫn là loại tốt nhất đương thời, vượt xa các nước khác đến cả trăm năm, dẫn đầu thế giới về công nghệ này. Tất nhiên, điều đó là nhờ Vạn Xuân có một thống lĩnh với tầm nhìn vượt thời đại, có khả năng nhận ra và áp dụng những cải tiến dù nhỏ bé, mà phải mất hàng trăm năm con người mới nhận ra và khắc phục – một lợi thế tuyệt vời.
Tuy súng tốt như vậy, quân Vạn Xuân cũng không trang bị quá nhiều, bởi tầm bắn còn ngắn và độ chính xác chưa cao, chưa thể thay thế hoàn toàn cung nỏ. Có lẽ phải 20, 30 năm nữa, khi súng hoàn thiện hơn, điều đó mới có thể xảy ra. Trong trận chiến này, Vạn Xuân huy động 5000 tay súng tham chiến, chiếm đến 9/10 tổng số lính bắn súng của cả nước.
Ngoài súng hiện đại, pháo binh c���a Vạn Xuân cũng thuộc hàng hiện đại bậc nhất, với tầm bắn xa và sức công phá lớn. Như đã nói ở trên, công nghệ luyện kim và thuốc súng của Vạn Xuân tuy còn kém, nhưng phải xem là kém so với thời nào. So với thế kỷ 17, 18 khi hỏa khí đã khá thành thục, thì kém là đúng, chứ so với thế kỷ 15, thì thực sự là vô song. Thợ thủ công người Việt rất tài hoa; chỉ cần được cấp đủ thời gian và kinh phí, họ gần như có thể tạo ra mọi thứ. Chỉ trong vòng 10 năm, sau khi đổ hàng núi vàng, mời gọi, thậm chí bắt cóc không ít thợ thủ công từ Đại Việt lẫn Đại Minh, quân Vạn Xuân đã sở hữu hỏa khí mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Khi quân Minh còn đang mò mẫm xem pháo bắn đạn hay bắn tên hiệu quả hơn, người Thổ còn đang vắt óc suy nghĩ xem phải chế tạo thần công lớn cỡ nào mới phá được thành Constantinople, thì quân Vạn Xuân đã có cho mình pháo dã chiến, pháo trên tàu bằng gang và đồng. Dù chưa thực sự gọn nhẹ và còn dễ bị hỏng hóc, nhưng chúng đã có khả năng bắn xa và gây sát thương lớn.
Và một lực lượng nữa không thể không nhắc đến trong quân đội Vạn Xuân, đó chính là kỵ binh, vua của chiến trường thời trung cổ. Dù nói có hơi quá lời, nhưng kỵ binh thực sự là một lực lượng vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt là kỵ binh du mục lớn lên trên lưng ngựa mà thành. Từ khi thiết lập các điểm buôn bán ở miền đất lạnh phương Bắc, Vạn Xuân đã tuyển mộ rất nhiều dũng sĩ từ các bộ lạc du mục, cùng với việc mua lại các nô lệ xuất thân từ các bộ tộc du mục, nhanh chóng xây dựng cho mình một đội kỵ binh lê dương hùng mạnh, tinh thông cưỡi ngựa bắn cung. Họ chính là những bóng ma trên chiến trường, thoắt ẩn thoắt hiện như gió, khiến không biết bao nhiêu kẻ thù phải nếm trái đắng.
Có thể nói, trong trận quyết chiến lần này, Vũ Đại Hải đã dồn hết những gì tinh túy nhất mà y đã gây dựng, tích cóp được trong gần 20 năm qua, nhằm quyết chiến với quân Minh, định đoạt quyền làm chủ đất Việt.
Phía quân Minh cũng không hề kém cạnh. Hơn 20 vạn quân do Mộc Thạnh dẫn theo, ngoài thân quân của y, đều là những lính chiến thiện chiến từ Quảng Tây, Quảng Đông hay các châu biên giới, quanh năm chinh chiến với các động. Tuy trang bị không phải hoàn mỹ nhất nhưng cũng thuộc loại khá, thêm vào đó là tinh thần chiến đấu hăng hái, không sợ chết. Chu Đệ còn không ngần ngại tăng cường những doanh hỏa khí mạnh mẽ; súng tay, đại pháo được trang bị đầy đủ, thậm chí có tin đồn rằng 1/10 quân Minh có trang bị hỏa khí. Đặc biệt, Mộc Thạnh cũng có đến 1 vạn kỵ binh, không hề ít, ít nhất gấp đôi, gấp ba, thậm chí gấp bốn, gấp năm lần kỵ binh của nhà Hồ. Quân Minh với quân số đông đảo, thế mạnh áp đảo, trang bị tốt và sĩ khí ngút trời, vừa càn quét gần hết đất Việt, gần như đánh đâu thắng đó, binh lính đều đã trải qua máu lửa chiến trường. Và trong một trận đánh quy ước như thế này, có thể nói quân Minh không ngán bất kỳ đối thủ nào trên thế giới. Quân Hồ cũng từng thử đánh quy ước một trận tại Đa Bang... và kết cục thì ai cũng rõ. Chính vì thế, với quân số vượt trội, kinh nghiệm đầy mình, quân Minh tự tin bước vào trận quyết chiến này, quyết tâm tiêu diệt nỗ lực phản kháng cuối cùng của người Việt.
Hà Tĩnh là một vùng đất có khí hậu khắc nghiệt bậc nhất Việt Nam, và ở thế kỷ 15 cũng không khá hơn là bao. Cuối tháng 6, mưa bão chưa tới nhưng nơi đây lại đón một mùa khô khắc nghiệt với gió Lào khô nóng. Đứng ngoài trời lâu rất dễ bị mất nước, cảm nắng. Mặc giáp trụ chiến đấu trong khoảng thời gian này thực sự là một cực hình tột độ. Giờ Mùi (13-15h) đúng là thời điểm nắng gay gắt nhất, người bình thường không ai muốn ló mặt ra ngoài vào lúc này. Nhưng hôm nay thì khác. Giờ Mùi đã đến.
Nắng như đổ lửa, nhưng quân Vạn Xuân vẫn giữ vững đội hình chỉnh tề, chờ đợi quân Minh đến quyết chiến. Lính hậu cần, quân y tất bật qua lại như con thoi, cung cấp nước sấu giải nhiệt, đảm bảo không ai mất sức chiến đấu.
“Đã đến giờ Mùi chưa, anh?” Một người lính lê dương vừa uống nước vừa hỏi.
“Chắc cũng sắp đến rồi đấy, mặt trời cao thế kia mà.” Lính cần vụ trả lời.
“Uống đi, anh có muốn thêm nữa không?”
“Cho em xin cốc nữa, nước mát quá, nắng như này mà vẫn có nước sấu lạnh uống thì thích thật.” Người lính chóp chép miệng, tận hưởng hương vị chua chua ngọt ngọt trong miệng.
“Này nhé, đừng uống nhiều quá kẻo lát nữa xóc bụng đấy.”
“Anh cứ yên tâm, mồ hôi ra là trôi đi hết ấy mà.”
“TU TU TUUUUUUUU” Tiếng tù và từng đợt liên hồi vang lên văng vẳng.
“Chắc quân Minh đang đến rồi đấy. Anh em ở lại chiến đấu tốt nhé, chúng tôi đã chuẩn bị cơm ngon rượu tốt đang chờ anh em ở phía sau.” Lính cần vụ nhanh chóng dọn đồ, chuẩn bị lùi lại.
“Các bác cứ nấu ngon vào nhé, thắng trận bọn em sẽ về ăn.” Mấy người lính xung quanh cười trả lời.
“Điều này anh em cứ yên tâm, bữa hôm nay thịt cá đủ cả. Thế nhé, quyết chiến quyết thắng!”
“Quyết chiến, quyết thắng!”
Lính cần vụ, quân y thu gom đồ đạc rồi lui về phía hậu tuyến. Trừ trường hợp bất khả kháng, họ sẽ không trực tiếp tham chiến. Binh lính Vạn Xuân điều chỉnh lại tư thế, buộc chặt áo giáp, mũ giáp, vặn mình khởi động các khớp.
“Nhìn kìa, quân Minh đến rồi.”
Phía xa xa, bụi bay mù mịt, những chấm đen nhỏ dần hiện ra. Từ những chấm nhỏ như hạt cát, rồi lớn dần thành những chấm như hạt đậu, rồi lớn hơn nữa, quân Minh từ từ áp sát. Đông. Đông hơn cả kiến cỏ, hai mươi vạn quân dàn trận, phủ kín cả mặt đất, khiến 7 vạn quân Vạn Xuân đứng trước họ có phần nhỏ bé hơn hẳn. Quân Minh dàn trận tiến tới.
Đi đầu là cung thủ cùng doanh hỏa khí, với những tên lính Minh bặm trợn, cầm những chiếc ống đồng – thứ súng đời đầu. Ngay phía sau là cả chục vạn đại quân với đủ loại trang bị: đội giáo binh, kích, đao thuẫn, cờ, rìu… không thiếu thứ gì. Đa số binh lính mặc giáp vải, giáp da khá sơ sài, nhưng khoảng 3 vạn quân ở giữa lại được trang bị giáp sắt. Loại giáp này không phải kiểu vảy cá hay đinh tán thường thấy trong các tác phẩm điện ảnh về thời Minh, mà hiện tại giáp của quân Minh có phần giống giáp thời Nguyên, với mũ đội đầu hình cánh phượng. Xem ra đây chính là lực lượng tinh nhuệ nhất trong quân viễn chinh nhà Minh. Tiêu diệt được chúng gần như đồng nghĩa với chiến thắng cả cuộc chiến.
Tất cả các quyền đối với bản dịch này đều thuộc về truyen.free.