(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 88: . Tướng Minh.
Mộc Thạnh cưỡi ngựa chạy cả tiếng đồng hồ, xương chậu như muốn nứt ra, da đùi xước xát, y vẫn phải cắn răng chịu đựng mà chạy. Đám Liễu Thăng không thể kìm chân quân kỵ Nam Man quá lâu, nếu lúc này không nhân cơ hội chạy thì còn đợi đến bao giờ nữa.
Đoàn người không quản mệt nhọc mà chạy lên hướng Bắc, bỗng từ phía trước và hai bên, bụi bay mịt mù, hàng ngàn quân kỵ Nam Man xuất hiện. Mộc Thạnh và đám thuộc hạ thất kinh. Rõ ràng kỵ binh Nam Man đã bị Liễu Thăng cầm chân rồi, vậy bọn này là ai? Toàn một màu ngựa trắng, phải chăng là bạch mã nghĩa tòng của Công Tôn Toản hiện thế, cứu vớt đồng tộc?
Ý nghĩ ngây thơ đó nhanh chóng bị dập tắt khi đám kỵ sĩ trắng kia mặt đằng đằng sát khí lao đến. Kẻ đến không có ý đồ tốt, lại là Nam Man, rốt cuộc Nam Man lấy đâu ra nhiều kỵ binh như vậy cơ chứ.
“BẢO VỆ ĐẠI SOÁI VÀ CÁC VỊ TƯỚNG QUÂN!” đám thân binh ùa lên, tay lăm lăm chiến đao, thề chết không lùi.
“GIẾT! BẮT SỐNG MỘC THẠNH!” Cấm vệ quân Vạn Xuân xung phong, khí thế như rồng.
“GIẾT SẠCH NAM MAN!” Đám thân vệ không chịu yếu kém, sắc mặt điên cuồng mà hò hét lao lên.
“ĐOÀNG ĐOÀNG ĐOÀNG” Hai quân chưa chạm mặt, hàng ngàn tiếng súng vang lên. Thân quân Mộc Thạnh người ngã ngựa đổ, giáp sắt bị đục nát. Chỉ một loạt súng mà hàng trăm người ngã gục, nhiều người khác cũng ngã ngựa, chưa kịp đứng dậy.
Cấm vệ quân Vạn Xuân là lực lượng duy nhất được trang bị súng hỏa mai cho kỵ binh, mỗi người ba cây, dùng làm vũ khí tầm xa thay cho cung tên, sức sát thương lớn hơn rất nhiều lần. Loại súng này dùng cho đánh kỵ hay đánh bộ đều tốt. Và quân Minh lần đầu tiên phải thử lửa trước loại súng này, bị đánh cho không kịp trở tay.
Thừa dịp địch đang rối loạn, Cấm vệ quân bắn thêm một lần nữa rồi mới rút đao lao vào cận chiến. Hơn hai ngàn thân vệ trang bị tinh nhuệ, võ nghệ đầy mình nhanh chóng bị đánh bại. Thân binh của Mộc Thạnh võ công cao cường, cận chiến vô địch nhưng đứng trước súng đạn của Vạn Xuân thì cũng hết đường chống đỡ, những người còn lại cũng nhanh chóng bị vây công đến chết. Cấm vệ quân hoàn toàn làm chủ chiến trường.
Mộc Thạnh cùng các tướng lĩnh muốn chạy cũng không được, tứ phía đều là địch, không một lối thoát. Họ thức thời vứt đao xuống đất đầu hàng, không chống cự vô ích thêm nữa. Với địa vị, cấp bậc như họ, dù có là tù binh cũng sẽ được đãi ngộ tốt và không bị giết… Họ tin là như vậy, nhưng sự thật liệu có đúng như thế không thì khó nói.
Hai mươi vạn quân Minh hoàn toàn bị đập tan. Trên khắp đất Việt này không một ai đủ sức cản bước tiến của hơn mười vạn đại quân Vạn Xuân. Sau mấy ngày chỉnh đốn, dọn dẹp chiến trường, quân Vạn Xuân nhanh chóng tiến công ra Bắc, thu phục lãnh thổ.
Mười vạn đại quân hành quân, thanh thế rầm rộ, khí thế ngợp trời, không một thành quách nào dám chống lại. Đa phần các thành trì của Đại Ngu đều đã bị đánh hạ, quân Minh chỉ giữ một lực lượng rất nhỏ đóng giữ, còn việc trị an thì dùng hàng quân. Bởi vậy, khi thấy quân Thuận Hóa đánh ra thì nhanh chóng đầu hàng, không dám mơ tưởng chống đỡ. Thành quách nước Việt, trừ những thành lớn như Đông Kinh, Tây Đô, ít thành nào có đủ tường cao hào sâu mà ngăn cản mười vạn đại quân cường công; khôn ngoan đầu hàng thì còn được sống.
Đại Hải dễ dàng thu phục lãnh thổ đã mất, cắt cử quan lại trông coi, tập hợp các bô lão trong vùng để thành lập hội đồng nhân dân phối hợp quản lý. Bộ máy chính quyền sẽ từ từ xây dựng khi đất nước hoàn toàn ổn định.
Có một số nơi bị quân các động miền núi đổ ra đánh cướp, Đại Hải cũng không nhân từ, lập tức cho quân tiến đánh trả thù. Quân binh những động này làm sao chống lại nổi được tinh binh Vạn Xuân, đặc biệt khi đối mặt với lực lượng sơn cước, chuyên đánh rừng núi, đi rừng như gió, không kém gì dân bản địa. Động phá, quân tan, tộc trưởng cùng tướng lĩnh, trai tráng đều bị bắt làm tù binh hết. Số còn lại thì ngoan ngoãn thần phục, để quân Vạn Xuân đến đóng giữ, sáp nhập vào lãnh thổ Vạn Xuân. Ngoan thì sau này chồng con còn được tha về, chứ hư thì chu di cửu tộc, mà không cần chu di, các tộc khác lân cận cũng làm gỏi họ.
Có những động ngoan cố chống lại, số phận của họ là bị xét nhà diệt tộc, không một ai thoát. Tất cả đều bị biến thành nô lệ, đày đi nơi khác, không biết ngày trở về. Số phận họ sẽ đi đâu về đâu? Có thể là đảo hoang nào đó bên Tân Đảo, hoặc vào đồng bằng Cửu Long chơi với cá sấu. Để khai phá những vùng đất mới thì luôn luôn cần những người tiên phong, thông thường sẽ là tù nhân và lưu dân nhưng đưa họ đến miền đất hoang vẫn phải quản lý nghiêm ngặt nếu không sẽ giống như người Anh, bị 13 thuộc địa chống trả.
Thủ đoạn sắt máu của quân Vạn Xuân khiến các động miền núi nơm nớp lo sợ, sợ một ngày quân Vạn Xuân kéo tới đánh. Nhất là các động khi xưa càn quấy ngang ngược, mang quân đi cướp bóc, họ càng sợ hãi, tối ngủ không yên giấc. Các động thi nhau cử sứ giả mang đồ cống đến xin hòa hảo. Nếu lỡ đánh cướp rồi thì đồ vật sẽ được trả về chủ cũ, mang theo lễ vật hậu hĩnh đến tạ tội, mong sau này được sống hòa bình.
Đối với các động này, Đại Hải cũng không có ý định đuổi tận giết tuyệt. Từ lâu họ đã có quan hệ với Đại Việt. Xưa kia các vua hay giao hảo, mượn sức để làm phên dậu chống lại các nước xung quanh. Xung đột, chiến tranh cũng có nhưng nợ máu hai bên chưa nhiều, chưa đến mức người chết ta sống.
Vũ lực là cách giải quyết vấn đề rất nhanh chóng nhưng không phải lúc nào cũng hiệu quả. Với địa hình đồi núi hiểm trở như vậy, cất quân đi đánh cũng mất công, hại nhiều hơn được. Từ từ khiến họ phụ thuộc hoàn toàn về kinh tế mới là cách hay nhất. Dĩ nhiên, vũ lực uy hiếp là không thể thiếu, không thể trông chờ vào ý thức tự giác được, phải cho họ biết Vạn Xuân không dễ chọc, mu��n diệt họ chỉ là chuyện một bữa sáng mà thôi.
Ngoài việc đe dọa vũ lực, thúc đẩy sự phụ thuộc về kinh tế, Vạn Xuân cũng đẩy mạnh việc đồng h��a về mặt văn hóa, khiến họ gần gũi và gắn bó hơn. Khi xưa cha Lạc Long Quân mang 50 con xuống biển, mẹ Âu Cơ dẫn 50 con lên non, con trưởng là Hùng Vương làm vua tộc Việt, các con khác là vua các tộc, các động khác… tất cả đều là anh em một nhà cả, nên đùm bọc lẫn nhau.
Hai quân Vạn Xuân – Đại Minh chém giết đẫm máu ở phía Nam thì ở ngoài Bắc, Hắc y quân – quân áo đen ngày càng lớn mạnh. Từ mấy ngàn lính đặc công Vạn Xuân nay phát triển lên thành mấy vạn người. Càng ngày càng nhiều trai tráng, anh hùng hào kiệt các nơi nghe danh mà đến xin gia nhập, số lượng không ngừng gia tăng.
Hậu phương rộng lớn, quân áo đen gần như làm chủ toàn bộ vùng Đông Lộ. Quân Minh phải co cụm phòng thủ trong các thành trấn có tường cao, hào sâu bao quanh. Nông thôn hoàn toàn trở thành thiên địa của quân áo đen. Cường hào, địa chủ các nơi cũng phải quy phục, không dám mảy may chống lại. Kẻ nào làm ác hay đầu hàng giặc đều phải đền tội, nhẹ thì đi làm khổ sai, nặng thì mất đầu.
Sự phát triển của quân áo đen khiến cho quân Minh trấn thủ ở ngoài Bắc hết sức lo sợ, nhiều lần truyền tin cho Mộc Thạnh xin cứu viện nhưng quá lâu mà vẫn bặt vô âm tín, không thấy hồi đáp. Các thám báo cử đi đều không một ai trở về.
Đông Kinh – Thăng Long, kinh đô cũ của Đại Việt. Sau khi quân Minh lộ ra bộ mặt thật, thỏa sức cướp bóc, giết hiếp, nay tàn phá tan hoang. Dân chúng trong thành không còn bao nhiêu, đa số đều đã trốn chạy cả. Tòa thành phồn hoa một thời nay đâu đâu cũng thấy lính Minh, lính Minh ở khắp mọi nơi, từ cấm cung đến vệ đường, không đâu không có. Càng nhiều thành trấn bị công phá, tàn quân Minh càng chạy về Đông Kinh nhiều. Đến nay, Đông Kinh phải có đến hơn ba vạn quân Minh. Quân đông nhưng lương thì đang cạn dần, muôn vàn khó khăn khiến tướng Minh sầu trắng đầu.
Ngoài thành, hàng vạn quân áo đen kéo đến, lều trại dài hàng dặm. Mới mấy ngày nay thôi, quân áo đen đã huy động năm vạn quân đến vây thành. Bốn phía Đông Kinh đều bị bao vây, một con chuột không chạy nổi chứ đừng nói đến thám báo. Quân Minh trong thành hoang mang lo sợ, chỉ biết cầu trời khấn phật mong sao đại quân mau tới mà bình định. Bên ngoài, quân áo đen đóng trại vây quanh chứ không hề có ý định tấn công. Năm vạn quân mà đánh một thành có ba vạn quân thủ, khéo chết hết cũng chưa chắc phá được thành. Theo quy ước quân sự thông thường, bên tấn công phải có lực lượng gấp ba bên phòng thủ thì mới có cơ may giành chiến thắng. Trường hợp ngoại lệ không phải không có nhưng mà cũng ít thôi.
Huống hồ quân Minh vốn giỏi chiến đấu theo quy ước, thủ thành. Quân áo đen lại là đội quân mới được tập hợp, ngoài lính chính quy từ Vạn Xuân, đa phần đều là lính mới, huấn luyện chưa bao lâu. Nóng vội công thành chỉ có nước bị quân Minh cho ăn hành ngập mồm, khi ấy, mất nhiều hơn là được.
Nếu không đánh được Đông Kinh thì đánh các nơi khác. Các thành trấn xung quanh không có tường cao hào sâu như Đông Kinh, quân đồn trú cũng không nhiều. Cả vạn quân áo đen kéo đến, lại có sự phối hợp của dân chúng trong vùng, chẳng tốn mấy sức mà hạ được. Quân Minh bị giết, bị bắt không ít.
Đã thế, quân áo đen còn rất thích lấy thịt đè người, chuyên phục kích c��c đoàn tải lương hay vận chuyển đồ cướp được của quân Minh. Nhất là những đoàn xe chở vàng bạc, văn vật và nô lệ, không một đoàn nào thoát. Bên Quảng Tây, Vân Nam cũng lấy làm lạ, quân viễn chinh đi mấy tháng mà không thấy cọng lông gà nào gửi về. Bình thường chúng đánh các động, các tộc trong vùng, có khi nào không trở về đầy xe vàng bạc, lương thực, khí cụ. Đám quân Mộc Thạnh này kéo sang làm ăn chán quá.
Quân Minh ở đất Việt thì chửi đám hậu cần, vận lương. Ai đời lại để quân đi mấy tháng trời mà lương thảo chưa đưa đến được mấy chuyến. Nếu không phải chúng cướp bóc được cùng với đám Việt gian dâng cống thì hai mươi vạn quân đã chết đói hết rồi. Nhất định phải gửi tấu lên hoàng đế, trừng trị thích đáng cái bọn làm ăn như hạch này.
Khổ thay quan hậu cần quân Minh, các đoàn lương liên tục bị phục kích. Đoàn nào nhiều lính bảo vệ thì may ra thoát, còn đâu thì lương thực mất, người cũng đi tong, lấy đâu ra gạo mà vận cho đại quân cơ chứ. Đây chính là bất lợi khi viễn chinh, hậu cần rất khó khăn. Đặc biệt khi nước sở tại vận dụng chiến tranh nhân dân, lấy nông thôn bao vây thành thị. Quân viễn chinh chỉ chiếm được các thành phố lớn, nông thôn thì gần như không làm gì được, muốn đánh cũng khó, thủ cũng chẳng xong, đoàn tiếp tế thì hay bị phục kích đánh chặn. Khó, muôn vàn khó.
Nội dung chuyển ngữ này thuộc về truyen.free, không sao chép dưới mọi hình thức.