(Đã dịch) Sống Lại Thập Niên 80 Làm Nông Dân Mới - Chương 2075: Mạch phách
Cố Hồng Trung không có gì vướng bận, nhưng Vạn Phong vẫn còn nhiều việc phải lo.
Hai ngày sau, tức ngày 1 tháng 3, đoàn xe Thanh Phong lại một lần nữa bắt đầu hành trình thử nghiệm.
Hiện tại, tập đoàn Nam Loan đã hình thành một hệ thống thử nghiệm xe hoàn chỉnh của riêng mình. Sau khi vượt qua giai đoạn thử nghiệm trong các điều kiện khắc nghiệt, họ sẽ tiến hành một cuộc thử nghiệm đường dài một trăm ngàn cây số. Khi đó, toàn bộ quá trình thử nghiệm mới được xem là hoàn thành một cách trọn vẹn.
Mọi giai đoạn thử nghiệm của Thanh Phong đã hoàn tất, giờ đây chỉ còn tiến hành cuộc thử nghiệm độ bền cuối cùng này.
Dự kiến quá trình này sẽ hoàn thành trong vòng ba tháng. Ngay khi quy trình này kết thúc và nhận được giấy phép sản xuất, mẫu xe nhỏ Thanh Phong dự kiến sẽ được tung ra thị trường trong nước vào cuối năm nay.
Bộ phận sản xuất đã bắt đầu thiết kế dây chuyền sản xuất cho Thanh Phong.
Mùa xuân năm nay, mặt hàng bán chạy nhất của tập đoàn Nam Loan không phải xe nhỏ, cũng không phải máy nhắn tin di động, mà chính là VCD.
Vào nửa cuối năm ngoái, trong nước, đặc biệt là các khu vực ven biển phía Nam, đã có hơn ba mươi nhà máy nhập khẩu một lượng lớn thiết bị ép đĩa CD. Trong số đó, ít nhất tám nhà máy có khả năng sản xuất khuôn đĩa (stamper).
Kỹ thuật chế tạo VCD và đĩa CD hầu như là giống nhau. Đồng thời, Quảng Đông còn có hơn bốn mươi cơ sở sản xuất LD đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất VCD với công nghệ tương tự.
Vì vậy, vào nửa cuối năm ngoái, đĩa CD lậu đã tràn ngập thị trường. Đến tháng Tám, ít nhất đã có sáu bảy trăm loại chương trình xuất hiện ở Bắc Kinh, Quảng Châu và các khu vực kinh tế phát triển khác.
Lúc bấy giờ, chi phí sản xuất đĩa CD lậu vào khoảng mười ba đến mười bốn tệ. Giá bán lẻ ở miền Nam thường là ba mươi tệ một đĩa, còn ở Bắc Kinh thì năm sáu chục tệ một đĩa.
Hơn nữa, Hoa Quang thỉnh thoảng có quảng cáo phát sóng trên đài trung ương. Đến cuối năm 1995, tỷ lệ dân số cả nước biết đến VCD đã vượt quá 15%.
Như vậy, thị trường dường như đột nhiên bùng nổ chỉ sau một đêm.
Trong suốt năm 1996, thị trường VCD đã tiêu thụ tới sáu triệu đầu đĩa. Vì vậy, ngay khi năm mới đến, mặt hàng bán chạy nhất chính là đầu đĩa VCD.
Dù sản lượng của Hoa Quang Khoa Kỹ đạt năm ngàn chiếc mỗi ngày, vẫn không đủ đáp ứng đơn đặt hàng của các đại lý.
Tất nhiên, thị trường này không chỉ thuộc về Hoa Quang. Một số nhà máy sản xuất đầu đĩa VCD ở Thâm Quyến và Quảng Châu cũng vô cùng bận rộn.
Tất nhiên, các nhà máy này đều đã ký thỏa thuận cấp phép với Hoa Quang.
Không chỉ các nhà sản xuất và thương hiệu trong nước, mà cả các thương hiệu nước ngoài cũng khiến Trần Văn Tâm bận tối mặt. Năm 1995, hơn mười nhà sản xuất và thương hiệu nước ngoài đã tràn vào Trung Quốc, như Cao Sĩ Đạt, Tam Tinh, Sony, Matsushita, Philips, Dẫn Đường Duy Tư và nhiều hãng khác.
Nhưng bất kể là Matsushita, Tam Tinh hay Philips, tất cả đều nhận được thư từ luật sư của Hoa Quang.
Đối với các nhà sản xuất và thương hiệu trong nước, phí cấp phép của Vạn Phong chỉ mang tính tượng trưng. Nhưng đối với các thương hiệu nước ngoài, Hoa Quang lại không hề khách sáo.
Mức phí cấp phép 50 nghìn nhân dân tệ đối với các nhà sản xuất và thương hiệu trong nước gần như là miễn phí. Nhưng đối với các thương hiệu nước ngoài, phí cấp phép trực tiếp tăng lên mười lần, và còn phải trả bằng USD.
Với mỗi chiếc máy bán ra, Hoa Quang thu về năm mươi tệ tiền bản quyền từ các nhà sản xuất và thương hiệu trong nước. Đối với các nhà sản xu���t và thương hiệu nước ngoài, mức tiền bản quyền là hai trăm đô la.
Có thể làm thì làm, không làm được thì thôi, không có chỗ để thương lượng.
Mặc dù vậy, những nhà sản xuất và thương hiệu nước ngoài này cũng vẫn ồ ạt đổ bộ vào thị trường.
Năm tiếp theo, doanh số VCD tại các trung tâm thương mại lớn có xu hướng tăng trưởng nóng. Chỉ trong quý đầu tiên, lượng tiêu thụ VCD so với cùng kỳ năm ngoái đã tăng 105%.
Ở kiếp trước, vào cùng thời điểm này, thị trường VCD Trung Quốc cơ bản bị các thương hiệu nước ngoài chiếm lĩnh. Ba thương hiệu lớn là Pioneer, Sony và Tam Tinh đã chiếm đến 75.5% thị phần.
Hơn nữa, giá bán của những hãng này cao bất thường, luôn giữ ở mức bốn đến năm nghìn tệ.
Nhưng ở kiếp này, Hoa Quang tự mình chiếm 40% thị phần. Nhờ có rào cản độc quyền và chế độ phân chia lợi nhuận đã được thiết lập, các thương hiệu nước ngoài không thể chiếm giữ vị trí chủ đạo.
Ngay sau Hoa Quang là các thương hiệu Tân Khoa, Yêu Đóa, Vạn Lợi Đạt, Hiện Hoa và các thương hiệu khác. Trong tương lai, mới đến lư��t các thương hiệu nước ngoài.
Giá bán hiện tại cũng không bị đẩy lên mức hai ngàn bốn trăm tệ. Đến cuối năm, mức giá này sẽ giảm xuống gần hai ngàn tệ.
Vào thời điểm đó, trong thị trường điện gia dụng, không có sản phẩm nào của Trung Quốc có sức ảnh hưởng lớn đến thế.
Thị trường VCD phải đến năm nay mới thực sự bùng nổ. Trong các năm 1996, 1997, 1998, thị trường VCD đạt lượng tiêu thụ khoảng ba mươi triệu chiếc. Cũng trong giai đoạn này, các định dạng như SVCD và CVD cũng xuất hiện.
Sau đó, VCD nhanh chóng bước vào thời đại dưới nghìn tệ.
Đến khi đó, Hoa Quang có thể sẽ rời khỏi lĩnh vực này.
Bởi vì, bất kể là định dạng D nào tiếp theo, cũng sẽ không địch lại máy vi tính và các thiết bị MP3/MP4. Hơn nữa, với sự xuất hiện của truyền hình cáp, thị trường này không còn mấy tiềm năng.
VCD dùng để nghe nhạc, xem phim. Nhờ sự xuất hiện của nó, không chỉ trong thành phố đâu đâu cũng có người hát, mà ngay cả ở nông thôn cũng dễ dàng bắt gặp.
Nơi khác thì khó nói, dù sao ở thôn Tiểu Thụ, không ít gia đình đều s�� hữu món đồ này.
Bây giờ vẫn chưa đến thời điểm đó. Đến mùa hè, khi cửa sổ mở toang, biết đâu chừng tiếng hát tuyệt vời sẽ vang vọng từ cửa sổ nhà ai đó. Còn việc liệu gà vịt nhà họ có bị giật mình mà không đẻ trứng hay không thì vẫn còn phải kiểm chứng.
Khách sạn Loan Khẩu cũng có Karaoke. Những vị khách quý sau khi uống say khướt, hét to một bài hát là chuyện hết sức bình thường.
Vạn Phong phát hiện, những người càng uống gần say lại càng muốn thể hiện khi hát. Những "kẻ phá mic" thường là kiểu người như vậy.
Nhưng cũng có những người không uống rượu mà vẫn "phá mic", ví dụ như Loan Phượng.
Trong nhà Vạn Phong cũng có một bộ, hơn nữa còn là một bộ dàn âm thanh tương đối cao cấp.
Căn phòng trong nhà lầu không đủ lớn để đặt bộ âm thanh này.
Không phải vì bộ âm thanh này quá cồng kềnh, mà là âm thanh của nó quá lớn.
Căn phòng quá nhỏ thì không thể phát huy hết tính năng ưu việt của nó.
Vì vậy, căn phòng cánh trái rộng khoảng một trăm hai mươi mét vuông được dọn trống. Vạn Phong thuê người đến dọn d��p và sửa sang lại căn phòng này, ốp ván cách âm, xây thêm một sân khấu nhỏ và mua một màn hình chiếu lớn.
Cả tháng Chạp, hắn chỉ làm mỗi việc này.
Sau khi căn phòng biểu diễn âm nhạc đặc biệt dành cho Loan Phượng và Trương Tuyền này được xây xong, hai cô gái này chẳng có việc gì khác ngoài việc chạy đến đây hát hò.
Hai người họ hát hò thì cũng đã đành, nhưng Vạn Phong thì nhất định phải làm khán giả, hơn nữa còn phải vỗ tay.
Cứ mỗi tối lại diễn ra cảnh tượng đó, ai mà chịu nổi.
Giọng hát của Loan Phượng khiến Vạn Phong phải phục sát đất, không phải vì hát hay mà là vì bền bỉ.
Đúng là một "kẻ phá mic", cô nàng này lên hát hai tiếng liền mà không thèm nghỉ lấy một hơi.
Vạn Phong nghi ngờ giọng của cô ấy làm bằng kim loại. Với khả năng này, lẽ ra nên đào tạo cô ấy thành ca sĩ từ đầu thì đúng hơn, căn bản không cần hát nhép.
Trương Tuyền thì không được như vậy, hát vài bài là giọng đã khàn. Vì vậy, cô ấy thường chỉ hát ba bốn bài mỗi đêm.
Cũng may, giờ đây khán giả không chỉ còn mỗi Vạn Phong. Buổi tối, cha mẹ hắn không có việc gì cũng đến hát một khúc "Hồng Hồ Thủy Lãng Đả Lãng" hay đại loại vậy. Vạn Trọng Dương có lúc cũng giả vờ lên sân khấu hát một bài tình ca mà hắn căn bản không hiểu.
Ngược lại, cái người hát hay nhất nhà họ thì một đêm không được cầm mic quá hai lần.
Loan Phượng vì vậy được phong danh hiệu: "Kẻ phá mic số một Tương Uy".
Truyen.free nắm giữ bản quyền đối với phiên bản chuyển ngữ này.