(Đã dịch) Ta Thấy Được Tất Cả - Chương 248: Tân khoa (2)
Dư Kiệm Tồn trở về Dương Thành để chủ trì công tác quản lý y dược tại công ty Tân Vui Khỏe.
Nhưng Hà Ấu Vi lại không đi cùng. Chức danh tổng giám đốc kỹ thuật của nàng chỉ mang tính hình thức, vì vậy cô vẫn tiếp tục nghiên cứu thuốc đặc trị mụn nhọt chấm đỏ tại khu thí nghiệm Nam Hồ. Dự án này thuộc Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ hai của Bộ Khoa học Kỹ thuật.
Còn Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ nhất, hiện tại do Thư Nhã quản lý, và nghiên cứu viên chủ trì công tác nghiên cứu phát triển là sư huynh của Thư Nhã, La Ngọc Lân.
Ba văn phòng nghiên cứu phát triển dược phẩm này có các hướng nghiên cứu khác nhau.
Hướng đi của Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ nhất là: Vi sinh vật dược dụng.
Hướng đi của Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ hai là: Thuốc nhắm đích gen.
Hướng đi của Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ ba là: Dược phẩm hóa học.
Nhìn có vẻ hướng đi của Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ hai và thứ ba có chút trùng lặp.
Nhưng thực tế, chúng là hai hướng đi hoàn toàn khác biệt.
Thuốc nhắm đích gen của Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ hai, có thể ví như việc đầu tiên đặt ra mục tiêu (bia ngắm), sau đó tìm kiếm trong vô số mũi tên (hoạt chất) đâu là phần phù hợp nhất để bắn trúng.
Còn việc nghiên cứu phát triển dược phẩm hóa học của Văn phòng Nghiên cứu Phát triển Dược phẩm thứ ba, thì lại giống như việc đầu tiên tạo ra mũi tên mới, rồi thử xem liệu chúng có bắn trúng bia ngắm, hay xuyên thủng bia ngắm được không.
Loại thuốc đặc trị mụn nhọt chấm đỏ mà Giang Miểu điều chế cho Hà Ấu Vi được tạo ra trên cơ sở các loại dược chất và phân tử vật chất có sẵn. Anh đã kết hợp chúng lại và điều chỉnh tỷ lệ để đạt được hiệu quả điều trị.
Về bản chất, đây không phải là một công trình nghiên cứu phát triển dược phẩm, mà là một ứng dụng tinh tế của phương pháp điều trị.
Công việc nghiên cứu phát triển thuốc đặc trị mụn nhọt chấm đỏ của Hà Ấu Vi gặp muôn vàn khó khăn, cũng chính bởi vì cô chưa nhận ra điểm mấu chốt này.
Với thuốc trị liệu nhắm đích gen, để đảm bảo hiệu quả cao và ít tác dụng phụ, chỉ có thể tùy chỉnh theo đặc điểm gen của từng người. Điều này có nghĩa là "một người một phương", không thể sản xuất hàng loạt một loại thuốc đặc trị có tác dụng phổ rộng.
Vì Hà Ấu Vi chưa nhận ra vấn đề này, nên mới cứ mãi loay hoay với những chi tiết nhỏ.
Nếu thực sự muốn phổ biến phương pháp điều trị mụn nhọt chấm đỏ bằng thuốc đặc trị, thì không phải là nghiên cứu thuốc đặc trị, mà là nghiên cứu cách làm thế nào để phát hiện gen mục tiêu của từng bệnh nhân với chi phí thấp, sau đó tùy chỉnh thuốc đặc trị cho mỗi người.
Vậy kỹ thuật này có thực hiện được không?
Thực ra, nó đã có thể thực hiện được rồi.
Bởi vì hệ thống phân tích gen hồng mà Giang Miểu đã phát triển vào tháng Hai, chỉ cần thay đổi mô hình một chút, điều chỉnh quy luật gen tương ứng và bổ sung kho gen người, là có thể nhanh chóng xác định gen mục tiêu của từng bệnh nhân.
Đương nhiên, điều này chỉ áp dụng được với các bệnh nhân mắc mụn nhọt chấm đỏ. Nếu muốn nghiên cứu các loại bệnh di truyền khác ở người, nhất định phải điều chỉnh lại mô hình phân tích.
Khi áp dụng kỹ thuật này, chỉ cần vài giờ là có thể thu thập được các gen mục tiêu liên quan đến bệnh mụn nhọt chấm đỏ của bệnh nhân. Dựa trên các gen mục tiêu đó, điều chế thuốc đặc trị tương ứng, bệnh nhân sẽ có thể sử dụng loại thuốc với chi phí tương đối phải chăng.
"Tương đối rẻ tiền" ở đây có nghĩa là chỉ cần thanh toán một lần khoản phí kiểm tra và phân tích khoảng vài vạn đồng, sau đó định kỳ mua thuốc từ công ty sản xuất thuốc đặc trị.
Thực ra, đây không phải là mô hình y tế hiện đại mà chúng ta mong đợi, mà giống với mô hình "lang trung" truyền thống.
Chẩn đoán bệnh tình cho bệnh nhân, kê đơn thuốc theo bệnh tình, rồi phối thuốc cho bệnh nhân – chẳng phải đó chính là mô hình lang trung truyền thống sao?
Vì mô hình này liên quan đến kỹ thuật độc quyền, về cơ bản không thể giao cho các bệnh viện thông thường kinh doanh. Hơn nữa, còn tiềm ẩn rủi ro liên quan đến việc phê duyệt thuốc.
Dù sao, theo mô hình này, mỗi bệnh nhân sẽ nhận được một loại "tân dược" mới. Vậy loại tân dược này sẽ được xử lý thế nào? Nếu phải tuân theo quy trình phê duyệt tân dược hiện hành, e rằng bệnh nhân chưa kịp khỏi thì thuốc đã chưa chắc được cấp phép hợp pháp.
Còn nếu không qua quy trình phê duyệt tân dược, đó lại là tội sản xuất thuốc giả.
Trừ khi có luật mới được ban hành đặc biệt, quy định rằng các loại tân dược sản xuất theo phương thức này có thể được phê duyệt nhanh chóng.
Vấn đề là việc thúc đẩy luật mới không hề dễ dàng.
Đây cũng là một nguyên nhân khác khiến Giang Miểu không nhắc nhở Hà Ấu Vi. Dù sao, để thúc đẩy một sự thay đổi như vậy, ngay cả với bối cảnh của Hà Ấu Vi cũng rất khó.
***
Sau khi cuộc họp kết thúc.
Giang Miểu tìm đến Thư Nhã, người đang lập kế hoạch cho dự án nghiên cứu phát triển.
Rồi gọi La Ngọc Lân đến.
La Ngọc Lân gõ cửa bước vào, thấy cả hai đều có mặt, liền cười chào hỏi: "Ông chủ! Thư Nhã, hai người đều ở đây ạ!"
"Nghiên cứu viên La, mời ngồi." Giang Miểu lấy ra một tài liệu từ trong cặp công văn.
Thư Nhã rót cho anh một chén trà: "Sư huynh, anh nên ở nhà nghỉ ngơi thêm vài ngày với chị dâu chứ."
"Ha ha, chẳng phải vì tôi quan tâm đến dự án thí nghiệm sao!" La Ngọc Lân có chút né tránh ánh mắt, chột dạ chuyển sang chuyện khác.
Giang Miểu cười không nói. Anh liếc mắt một cái đã nhận ra La Ngọc Lân có vẻ hơi mệt mỏi. Đối phương vừa kết hôn tháng trước, đáng lẽ có nửa tháng nghỉ phép, nhưng chưa đầy mười ngày đã vội vã quay lại làm việc.
Anh trao tài liệu cho La Ngọc Lân.
"Đây là nấm mới mà A Nhã phát hiện vào tháng Tư. Hiện tại luận văn đã đăng trên tạp chí."
Lâm Thư Nhã trong lòng bất đắc dĩ. Mặc dù không muốn cái danh này, nhưng cô cũng hiểu ý đồ của Giang Miểu, đành phải nhận lấy danh hiệu "người phát hiện nấm mới" này.
La Ngọc Lân nhận lấy tài liệu, vừa lật xem vừa hỏi: "Trước đây tôi có xem qua, ba loại nấm mới này có vấn đề gì à?"
Giang Miểu giải thích: "Trong một lần thí nghiệm trước đây, A Nhã đã phát hiện một loại nấm trong số đó có chất chuyển hóa thứ cấp có thể tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn, thậm chí còn có tác dụng ức chế tốt đối với một số loại nấm khác."
"À? Đây là một loại kháng sinh mới sao?" La Ngọc Lân lập tức phấn chấn hẳn lên.
Giang Miểu nhắc: "Ở trang thứ mười bảy, có một số giới thiệu về nó."
La Ngọc Lân vội vàng lật đến trang thứ mười bảy của tài liệu.
[Nghiên cứu về chất chuyển hóa thứ cấp từ loài nấm giả cát bùn lớn thuộc phân chi nấm giả cát chịu kiềm, họ nấm túi nhỏ khuẩn...]
Loại nấm giả cát bùn lớn này chính là thứ mà Giang Miểu đã phát hiện khi đến sa mạc Mạc Nam ba tháng trước.
Nấm giả cát bùn lớn tồn tại trong đất kiềm và bùn nước mặn �� Mạc Nam.
Hai loại nấm khác cũng là thành viên của họ nấm này, lần lượt là nấm giả cát ruộng cạn lớn và nấm giả cát bùn nhỏ.
Sở dĩ đặt tên như vậy, chủ yếu là để tiện gọi.
Nếu theo cách đặt tên phương Tây, nó cũng có thể được gọi là "Nấm giả cát họ Lâm."
Thực ra, trong kho dữ liệu giám định của Giang Miểu, số loại virus, vi khuẩn và nấm chưa được biết đến đã lên đến hàng triệu.
Anh đặc biệt chọn lọc nấm giả cát bùn lớn, cũng bởi vì loại nấm này không chỉ rất khó nuôi cấy, đòi hỏi môi trường và điều kiện đặc thù. Nếu điều kiện không phù hợp, chúng sẽ ở trong trạng thái ngủ đông giả chết dài ngày. Đây cũng là lý do vì sao chúng được gọi là nấm giả cát: khi điều kiện sinh sôi không đủ, chúng sẽ trông giống hệt những hạt cát nhỏ bé thông thường.
Với đặc tính này, nấm rất khó phát triển tràn lan.
Một nguyên nhân khác nữa là nấm giả cát bùn lớn không dễ lây nhiễm cho người, động vật và thực vật. Chúng là những loại vi khuẩn/nấm hoại sinh khá đặc biệt, dễ bị các loại vi khuẩn/nấm men khác tiêu diệt.
Trong luận văn của Thư Nhã, cô chỉ đề cập đến một phần tình hình của ba loại nấm mới này, chẳng hạn như cách chúng được phát hiện, kiểm tra và phân tích.
Còn về việc chất chuyển hóa thứ cấp từ nấm giả cát bùn lớn có khả năng tiêu diệt vi khuẩn và ức chế nấm, Thư Nhã đã không đề cập trong luận văn.
Bởi vì phát hiện này sẽ tạo ra một họ kháng sinh hoàn toàn mới, liên quan trực tiếp đến lợi ích của công ty. Trước khi hoàn tất việc xây dựng hệ thống bằng sáng chế liên quan, phát hiện này chỉ có thể được giữ kín.
Sau khi đọc hết mấy trang đầu, La Ngọc Lân mới thực sự hiểu được ý nghĩa to lớn của phát hiện này.
"Ông chủ, anh định nghiên cứu thành phần dẫn xuất này sao?"
Giang Miểu gật đầu nhẹ: "Đúng vậy, nhưng vì Thư Nhã đang mang bầu, không thể tiếp tục tiếp xúc với việc nghiên cứu nấm. Trong thời gian này, anh hãy dẫn đầu một đội ngũ nghiên cứu toàn diện về dược lý và độc tính của thành phần dẫn xuất này."
"Không thành vấn đề."
Giang Miểu thấy La Ngọc Lân vẫn còn đang hưng phấn, vội nhắc nhở: "Nghiên cứu viên La, các anh chắc hẳn đã rõ quy định của công ty. Dự án này là một trong những bí mật cốt lõi, tất cả nhân viên tiếp xúc với loại nấm này và các hợp chất dẫn xuất tương ứng đều phải ký kết thỏa thuận bảo mật."
"À? Tôi hiểu rồi." La Ngọc Lân ngay lập tức nhận ra vấn đề.
Anh hiểu rõ tầm quan trọng của thành phần và nghiên cứu này. Nếu bị tiết lộ ra ngoài, sẽ gây tổn thất nặng nề cho công ty.
Đặc biệt là trong giai đoạn nghiên cứu khả thi ban đầu, khoảng thời gian này vô cùng quan trọng. Bởi vì để đăng ký bằng sáng chế cho hoạt chất dược phẩm, nhất định phải cung cấp dữ liệu thử nghiệm cụ thể, không thể dễ dàng được chấp thuận.
Khoảng thời gian giới hạn này kéo dài chừng vài tháng.
Do đó, thỏa thuận bảo mật và quản lý theo hình thức khép kín là những biện pháp không thể thiếu.
Chỉ cần sau vài tháng nữa, khi nghiên cứu khả thi về hoạt chất đã hoàn tất, có thể nộp đơn xin cấp bằng sáng chế. Còn việc liệu cuối cùng có trở thành một loại thuốc mới hay không thì còn ph���i phụ thuộc vào các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo, bao gồm một loạt thử nghiệm trên tế bào, trên động vật, thử nghiệm lâm sàng, và cuối cùng là kiểm chứng tác dụng dược lý, độ an toàn cùng các tác dụng phụ liên quan, mới có thể nộp đơn xin đưa thuốc mới ra thị trường.
Tóm lại, nếu không có ít nhất ba đến năm năm nghiên cứu, thì đừng nghĩ đến việc có thể đưa ra được loại tân dược nào đó.
Loại nấm giả cát bùn lớn mà Giang Miểu đã tỉ mỉ chọn lọc, cùng với chất dẫn xuất từ nó, đều cho thấy hiệu quả diệt khuẩn rất tốt trên mọi phương diện.
Đặc biệt, đối với một số vi khuẩn siêu kháng thuốc hiện nay, chất dẫn xuất này đều có tác dụng ức chế tốt. Riêng với vi khuẩn đường ruột kháng Carbapenem (CRE), nó còn có hiệu quả diệt trừ chuyên biệt.
Loại vi khuẩn kháng Carbapenem (CRE) này phổ biến trong các cơ sở y tế. Chúng đã kháng lại kháng sinh nhóm Carbapenem – vốn được coi là tuyến phòng thủ cuối cùng để điều trị nhiễm khuẩn đường ruột nặng.
Do đó, các ca nhiễm CRE thường liên quan đến tỷ lệ tử vong cao, dễ dàng lây lan trong môi trường bệnh viện, đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn của bệnh nhân.
Đây cũng là nguyên nhân quan trọng khiến những năm gần đây, trong nước đã mạnh tay chấn chỉnh vấn đề lạm dụng kháng sinh.
So với vấn đề lạm dụng thuốc gây nghiện ở Âu Mỹ, vấn đề trong lĩnh vực y tế ở trong nước và các khu vực kém phát triển ở Châu Á lại là lạm dụng kháng sinh, đặc biệt là tại các phòng khám tư nhân, việc kê đơn thuốc hoàn toàn không có sự kiêng dè.
Hậu quả của việc lạm dụng kháng sinh chính là sự xuất hiện dễ dàng của các chủng vi khuẩn, nấm có khả năng kháng thuốc cực mạnh, khiến hiệu quả điều trị của kháng sinh ngày càng suy giảm, cuối cùng thậm chí dẫn đến tình trạng không còn thuốc để sử dụng.
Hiện nay, việc phát hiện các loại kháng sinh mới ngày càng trở nên hiếm hoi.
Cộng thêm việc các loại penicillin về cơ bản đã gần như bị loại bỏ, số lượng kháng sinh còn sử dụng được cũng ngày càng khan hiếm.
Vào thời điểm này, việc phát hiện một họ kháng sinh hoàn toàn mới mang ý nghĩa vô cùng to lớn đối với hệ thống y tế trong nước.
Đoạn văn này được biên tập lại bởi truyen.free, với mong muốn mang đến trải nghiệm đọc mượt mà và sâu sắc hơn.