(Đã dịch) Trùng Sinh Chi Bát Thập Niên Đại Tân Nông Dân - Chương 1496 : Một đoạn chất bán dẫn chip tranh bá lịch sử
Trần Đạo, Trương Sơn Lý cùng với người thứ ba đã chính thức thành lập đội uống rượu. Ba người này vốn xa lạ, nay như hận không gặp nhau sớm hơn, cùng tụ họp một chỗ để trao đổi kinh nghiệm uống rượu.
Trong khi đó, Vạn Phong lại đang say sưa đọc những cuốn sách mà bên ngoài thị trường không thể tìm thấy. Những cuốn sách báo này được chất chồng trong phòng đọc sách của quân đội. Sau khi đội uống rượu kết thúc việc tuyển chọn, Vạn Phong đã lập tức tìm đến đây để đọc. Bởi vì nơi này có những cuốn sách báo chứa tin tức nội bộ mà thế giới bên ngoài không thể biết được. Tất nhiên, những thông tin này giờ đây đã được giải mật.
Vạn Phong chủ yếu lật xem những tài liệu, văn kiện hay báo cáo có ghi chữ "tham khảo nội bộ". Trong một bản tin tham khảo nội bộ, không rõ là của năm ngoái hay năm nay, một bài viết đã thu hút sự chú ý của Vạn Phong. Ban đầu, thứ thu hút sự chú ý của Vạn Phong không phải là bản thân bài viết, mà là một biểu đồ.
Biểu đồ này có bốn đường cong, trên đó ghi tên bốn quốc gia và khu vực: Mỹ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên và Đài Loan. Chính bốn cái tên này đã khơi dậy sự tò mò của Vạn Phong. Mỹ là một trong hai siêu cường quốc thời điểm đó. Nhật Bản và Hàn Quốc (lúc bấy giờ còn gọi là Nam Triều Tiên) được xem là hai "thuộc địa" của Mỹ, và Đài Loan cũng không ngoại lệ. Hai quốc gia và khu vực này chính là ba "quân cờ" mà Mỹ đặt trước cửa Trung Quốc để phong tỏa nư���c này.
Vạn Phong cứ nghĩ đây là bài viết về chính trị, nhưng khi xem kỹ lại, nó lại nói về ngành công nghiệp bán dẫn bộ nhớ. Vạn Phong lập tức cảm thấy hứng thú, cầm bài viết này – vốn chiếm một trang rưỡi và có chữ in rất nhỏ – dành một tiếng đồng hồ để đọc kỹ từ đầu đến cuối. Sau khi đọc xong bài viết này, Vạn Phong đã có một cái nhìn rõ ràng về tình hình chip bán dẫn quốc tế lúc bấy giờ.
Đầu thập niên 80 là thời khắc huy hoàng của các doanh nghiệp chip bán dẫn Nhật Bản. Intel, AMD cùng các công ty Mỹ khác trong lĩnh vực bán dẫn bộ nhớ đã bị người Nhật Bản đánh bại thảm hại.
Kiểu phát triển của các doanh nghiệp Mỹ từ trước đến nay luôn là thông qua vốn đầu tư mạo hiểm để rót tiền vào các công ty khởi nghiệp. Các công ty này, sau khi nhận được vốn hỗ trợ, sẽ tiến hành nghiên cứu khoa học và đổi mới kỹ thuật, sau đó tung ra sản phẩm để chiếm lĩnh thị trường, tăng giá trị cổ phần, cuối cùng niêm yết trên sàn chứng khoán. Khi đó, các quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ bán cổ phiếu để thu lợi nhuận rồi rút lui. Mô hình này không chỉ là hình thức phát triển chủ yếu lúc bấy giờ, mà thậm chí mấy chục năm sau vẫn không thay đổi. Trước khi Vạn Phong trọng sinh, vô số doanh nghiệp dân doanh của Trung Quốc cũng đang đi theo con đường này. Mô hình này lấy thị trường làm kim chỉ nam, giúp việc góp vốn nhanh, hiệu suất cao và rủi ro thấp. Tuy nhiên, nhược điểm của nó cũng rất rõ ràng: đó là quy mô nhỏ và các công ty gặp khó khăn trong việc tích hợp tài nguyên.
Trong khi đó, người Nhật Bản đương thời trong lĩnh vực này lại chọn một cách làm hoàn toàn khác biệt so với nền kinh tế thị trường, đó là lựa chọn cách làm phổ biến của các quốc gia xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ: "Tập trung lực lượng làm đại sự". Chính phủ Nhật Bản vào năm 1974 đã phê duyệt kế hoạch phát triển vi mạch tích hợp siêu quy mô lớn, tức chip bán dẫn. Bộ Công Thương Nhật Bản đã tổ chức năm công ty lớn là Hitachi, NEC, Fujitsu, Mitsubishi và Toshiba, cùng nhau bắt đầu tiến công toàn diện vào lĩnh vực chip bán dẫn. Dưới sự điều phối của một người tên là Tarui Kōfuku, người Nhật Bản bắt đầu tấn công vào Thung lũng Silicon của Mỹ, vốn là vương giả trong lĩnh vực này.
Đến năm 1980, các công ty Nhật Bản đã giành được hàng ngàn bằng sáng chế độc quyền, nhờ đó rút ngắn đáng kể khoảng cách công nghệ với Thung lũng Silicon. Lúc này, chính phủ Nhật Bản đã dùng chính sách cho vay và ưu đãi thuế để hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp này. Với sự hỗ trợ tài chính đầy đủ, các công ty này bắt đầu phát động kiểu tấn công bão hòa. Trong khoảng 5 năm từ 1980 đến 1985, Nhật Bản đã chiếm giữ hơn một nửa thị phần của thị trường này, đẩy người Mỹ bị bỏ lại phía sau.
Các công ty công nghệ cao ở Thung lũng Silicon, sau khi đến thăm các doanh nghiệp Nhật Bản đặt trên đảo Kyushu, đã hoàn toàn tuyệt vọng. Một dãy nhà cao tầng ngay ngắn được sử dụng riêng cho nghiên cứu chip bộ nhớ: tầng một dành cho nhân viên nghiên cứu chip dung lượng 4Kbit, tầng hai cho 64Kbit, tầng ba cho 256Kbit. Kiểu nghiên cứu "ba mũi tên cùng bắn" của Nhật Bản đã khiến các doanh nghiệp Thung lũng Silicon, vốn quen với lối làm việc cẩu thả, hoàn toàn không thể chống đỡ.
Điều khiến người Mỹ càng thêm tuyệt vọng là, chip bộ nhớ của Nhật Bản không chỉ có số lượng lớn mà chất lượng còn rất tốt. Các công ty công nghệ ở Thung lũng Silicon đã tiến hành khảo sát chất lượng chip bộ nhớ của cả hai nước, với hy vọng tìm ra điểm yếu của đối thủ. Nhưng kết quả thật sự đáng kinh ngạc: chip bộ nhớ chất lượng cao nhất của Mỹ còn kém hơn cả chip chất lượng kém nhất của Nhật Bản. Chính trong hoàn cảnh này, các công ty ở Thung lũng Silicon đã thất bại thảm hại.
Năm 1985, Intel đã "nộp khí giới đầu hàng", tuyên bố rút lui khỏi mảng kinh doanh DRAM bộ nhớ, khi đó nó đã đứng bên bờ vực phá sản. Nếu không nhờ IBM ra tay cứu vớt, bằng cách mua 12% trái phiếu chuyển đổi, thì doanh nghiệp lừng lẫy sau này này liệu có thể tồn tại hay không vẫn là một dấu hỏi.
Lúc này, bản chất "lưu manh" của người Mỹ bắt đầu bộc lộ. Đúng vậy, vẫn là cái cớ được sử dụng hàng ngàn năm nay: "đe dọa an ninh quốc gia của Mỹ". Mùa xuân năm 1986, Nhật Bản bị cáo buộc bán phá giá chip bộ nhớ chỉ đọc (ROM); tháng 9 cùng năm, Hiệp định bán dẫn Mỹ-Nhật được ký kết, yêu cầu Nhật Bản mở cửa thị trường bán dẫn và đảm bảo các công ty nước ngoài sẽ giành được 20% thị phần trong vòng 5 năm. Không lâu sau đó, Mỹ áp thuế trừng phạt 100% lên 300 triệu đô la chip xuất khẩu từ Nhật Bản và bác bỏ việc Fujitsu mua lại công ty bán dẫn Fairchild. Đồng thời, Mỹ còn chỉ trích chính sách của các doanh nghiệp Nhật Bản là không hợp lý và yêu cầu phải thay đổi. Theo đó, Nhật Bản phải thay đổi chính sách của mình theo hướng của Mỹ.
Chính từ lần này trở đi, trong suốt 20-30 năm sau đó, Mỹ liên tục lấy cớ "đe dọa an ninh" của mình để "xử lý" các doanh nghiệp nước ngoài mà họ cho là đang "đẩy" doanh nghiệp của mình vào chỗ chết, nổi tiếng nhất là trường hợp của Alstom của Pháp. Sau khi Hiệp định bán dẫn Mỹ-Nhật được ký kết, ngành công nghiệp chip bán dẫn Nhật Bản, vốn đang ở đỉnh cao, đã quay đầu trượt dốc không phanh. Trong đó, DRAM bị ảnh hưởng nặng nề nhất, từ mức đỉnh gần 80% thị phần toàn cầu, giờ đây giảm xuống chỉ còn hơn 60%.
Biểu đồ mà Vạn Phong xem lúc nãy chính là biểu đồ phân bố thị phần theo năm. Tại thời điểm này, Nhật Bản vẫn chiếm hơn 60% thị phần trong lĩnh vực này, còn Mỹ là 20%. Hàn Quốc và Đài Loan mỗi bên chiếm khoảng 10%. Các quốc gia/khu vực khác không đáng kể.
Đọc đến đây, Vạn Phong vui vẻ bật cười lớn. Đoạn lịch sử này hắn không biết rõ lắm, chỉ biết đại khái rằng thập niên 80, Nhật Bản và Mỹ từng diễn ra "đại chiến chip". Giờ thì hắn đã biết. Đừng thấy lúc này các doanh nghiệp Nhật Bản vẫn còn chiếm hơn 60% thị phần chip bộ nhớ, và đừng thấy bài báo này chỉ nói đến đây. Nhưng những chuyện tiếp theo thì Vạn Phong biết rõ!
Nếu không phải sự việc Trung Quốc bị Mỹ "bóp cổ" đã xảy ra trước khi Vạn Phong trọng sinh, thì hắn cũng chẳng rảnh rỗi mà đi tìm hiểu những vấn đề liên quan đến chip máy tính. Chính sự việc này đã khiến hắn lúc đó có cái nhìn tương đối cặn kẽ về sự phát triển của lĩnh vực này.
Đến năm 2000, thị phần của các doanh nghiệp Nhật Bản trong lĩnh vực này chỉ còn 10%, Mỹ vẫn là 20%. Vậy 70% còn lại đã đi đâu? Đúng vậy, tất cả đã chảy vào túi Samsung của Hàn Quốc. Khi Nhật Bản bắt đầu suy yếu, trong khi Mỹ vẫn chưa thể lấy lại được thị phần đã mất, Samsung đã trỗi dậy vào thập niên 90. Thông qua việc "ôm đùi" người Mỹ và tận dụng sự chênh lệch thuế chống phá giá giữa 100% và 0.7%, Samsung đã một lần hành động đánh bại các doanh nghiệp Nhật Bản, thành công chiếm lĩnh thị trường DRAM khổng lồ này.
Nội dung này được đăng tải duy nhất tại truyen.free.