(Đã dịch) Dân Quốc Chi Văn Hào Quật Khởi - Chương 492 : ( Chu tiên sinh là ngữ ngôn học gia )
"Ra rồi! Ra rồi! Ra rồi!..."
Vivien Leigh ngâm nga một điệu dân ca không rõ tên, trong tay ôm mấy cuốn tạp chí, bước chân thoăn thoắt chạy về ký túc xá trường học.
"Chuyện gì mà cao hứng vậy?" Denise cười hỏi.
Sau khi nghe tin Vivien Leigh trở thành bạn gái của Chu Hách Huyên, đồng thời còn tham gia vũ hội hoàng gia, cô bạn thân Denise đã làm lành với cô ấy và thường xuy��n hỏi han những chuyện liên quan đến giới quý tộc. Đặc biệt là việc Hoàng tử Albert bị cà lăm khiến Denise vô cùng ngạc nhiên và liên tục kêu lên những tiếng quái dị, còn nài nỉ Vivien Leigh lần tới đi vũ hội quý tộc nhất định phải gọi mình đi cùng.
Vivien Leigh sắp xếp gọn gàng mấy cuốn tạp chí trong tay, đặt lên bàn chung, rồi cười ngọt ngào nói: "Toàn là những bài viết về Huyên cả."
Denise lòng dẫu chua chát nhưng vẫn nở một nụ cười rạng rỡ, liền tùy tiện mở một cuốn tạp chí ra đọc. Thấy bài viết có đoạn:
"Nhà văn học Chu Hách Huyên, người đến từ Viễn Đông, gần đây đã đưa ra một cách giải thích mới về kịch Shakespeare. Chu tiên sinh cho rằng, phép ẩn dụ và sự thể hiện cảm xúc trong kịch bản đều phụ thuộc vào khái niệm phép ẩn dụ. Phép ẩn dụ là công cụ nhận thức khái niệm để chúng ta tiếp cận các phạm trù trừu tượng, là một phương pháp quan trọng để lý giải năng lực nhận thức của con người. Nó giúp chủ thể nhận thức trong quá trình phán đoán và suy luận về các mệnh đề hoặc cấu trúc khái niệm, từ đó thu nhận ý nghĩa và trải nghiệm cảm xúc kịch tính. . .
Mấy trăm năm qua, kịch Shakespeare đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhưng các phiên bản rất khó giữ được nguyên bản, nguyên vị. Chu tiên sinh cho rằng, dịch kịch Shakespeare chính là dịch một bộ bách khoa toàn thư đại diện cho toàn bộ thành quả văn minh châu Âu thời Phục Hưng; đồng thời tái hiện bối cảnh lịch sử, xã hội, tôn giáo và văn hóa rộng lớn của thời đại ấy. Nó cũng cho thấy cách con người thời đó phá vỡ những ràng buộc của thời Trung Cổ, vượt lên trên sự tồn tại trừu tượng, và tôn vinh cuộc sống thực tế, những sở thích, giá trị, tài năng, phẩm giá cùng thành tựu của nhân loại.
Kịch Shakespeare thông qua phép ẩn dụ để phản ánh một số khuôn mẫu tư tưởng, nhằm diễn tả những trải nghiệm và kinh nghiệm của con người đối với thời đại lúc bấy giờ. Chẳng hạn như trong (Hamlet), khuôn mẫu tư tưởng về bệnh tật đại diện cho chủ đề bi kịch, và khuôn mẫu tư tưởng về săn bắn đại diện cho chủ đề thù hận.
Quá trình nhận thức kịch Shakespeare, trên thực tế, chính là quá trình tái cấu trúc khái niệm phép ẩn dụ trong kịch Shakespeare từ sâu bên trong tâm trí. Trong quá trình này, đối với việc làm hiện ra những ý tưởng và chủ đề khác nhau trong kịch Shakespeare, cần phải thông qua các bước dưới đây để phân tích ý nghĩa kịch bản và sự tái hiện cảm xúc. . . Cách Chu Hách Huyên giải thích lại về phép ẩn dụ trong kịch Shakespeare, chắc chắn là một đột phá lớn trong nghiên cứu kịch gần đây. Ông đã mở ra một cánh cửa mới cho giới nghiên cứu kịch."
Denise mơ màng đọc hết bài viết này, rồi ngơ ngác nói: "Hình như tôi vẫn chưa hiểu gì cả."
Vivien Leigh cười nói: "Tớ cũng chẳng hiểu gì mấy, nhưng chỉ cần biết Huyên rất giỏi là được rồi."
Phép ẩn dụ trong kịch Shakespeare vẫn luôn tồn tại và cũng thường xuyên có người nghiên cứu về nó. Nhưng gần trăm năm qua, "Shakespeare học" vì tranh cãi về việc liệu chức năng mô phỏng của bi kịch có tồn tại hay không, đã dẫn đến nhiều cách giải thích khác nhau về tư tưởng của Shakespeare và ngôn ngữ tiếng Anh của ông.
Trường phái ngữ nghĩa – ý tưởng cho rằng, ý tưởng là quy tắc quan trọng của quan niệm về cuộc sống bi kịch, mang đặc tính thơ ca. Kellerman nhấn mạnh mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của ý tưởng đối với sự phát triển của kịch bản. U Ngươi Mạn coi ý tưởng là bản chất của ngôn ngữ trực quan và chủ trương diễn tả tư tưởng thông qua môi giới.
Cho tới trường phái Oxford, họ nhất quán cho rằng phép ẩn dụ chẳng có tác dụng gì, thậm chí còn coi phép ẩn dụ trong kịch Shakespeare là những câu từ rườm rà, thừa thãi.
Chu Hách Huyên nay đưa ra khái niệm ngôn ngữ học nhận thức, và từ góc độ nhận thức để lý giải phép ẩn dụ trong kịch Shakespeare, ngay lập tức đã gây chấn động toàn bộ giới kịch nghệ Anh quốc.
Rất nhiều người ủng hộ hướng nghiên cứu này của Chu Hách Huyên, và từ đó tiến hành nghiên cứu sâu hơn. Song cũng có rất nhiều người đứng ra phản đối, cho rằng lý thuyết của Chu Hách Huyên chỉ là ngụy biện tà thuyết.
Gasset thuộc trường phái Oxford liền viết bài phản bác rằng: "Phép ẩn dụ là một phương pháp tu từ vô dụng, nó nhấn chìm và làm mất đi chủ đề, chẳng có tác dụng nào khác ngoài việc lừa gạt tiền nhuận bút. Khi sáng tác kịch, nên dùng ngôn ngữ thẳng thắn, trực tiếp biểu đạt tư tưởng và ý nghĩa chính. Phép ẩn dụ trong kịch Shakespeare không hề phức tạp như cách Chu Hách Huyên phân tích, nó chỉ là một thủ pháp sáng tác thông thường, chúng ta không nên diễn giải quá mức về nó."
Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, giới văn hóa và kịch nghệ Anh quốc liền xôn xao hẳn lên. Một phe ủng hộ quan điểm của Chu Hách Huyên và từ đó tiến hành nghiên cứu sâu hơn. Phe còn lại thì chê bai cách giải thích của ông là thừa thãi, thậm chí coi đó là một bước lùi trong nghiên cứu lý luận sáng tác kịch.
Cùng lúc đó, giới ngôn ngữ học Anh cũng bắt đầu quan tâm đến ngôn ngữ học nhận thức do Chu Hách Huyên đề xuất. Thậm chí có nhà ngôn ngữ học đã gửi thư để thỉnh giáo Chu Hách Huyên về những nội dung chi tiết của ngôn ngữ học nhận thức.
Chu Hách Huyên rất hào phóng hồi âm, giảng giải tường tận về ngôn ngữ học nhận thức từ đầu.
Chẳng hạn, lý thuyết phép ẩn dụ trong ngôn ngữ học nhận thức được chia thành ba loại: phép ẩn dụ bản thể, phép ẩn dụ cấu trúc và phép ẩn dụ định hướng. Phép ẩn dụ không chỉ tồn tại trong các tác phẩm văn học, mà chúng ta còn thường xuyên sử dụng nó trong giao tiếp hàng ngày. Ví dụ, khi mắng người ta nói "Đồ con lợn này". Đây chính là một phép ẩn dụ, bởi vì người không phải là lợn, nhưng có thể ngu đần như lợn vậy.
Sau khi hồi âm, Chu Hách Huyên ngay lập tức viết một luận văn về ngôn ngữ học nhận thức và công bố trên một tạp chí học thuật ở Anh.
Thời bấy giờ, phương Tây đang thịnh hành một loại "ngôn ngữ học cấu trúc", thường được đặt tên theo các thành phố, ví dụ như trường phái Prague, trường phái Copenhagen. Trường phái Prague chuyên nghiên cứu nhánh "ngôn ngữ học chức năng". Phía Mỹ còn có trường phái cấu trúc luận Mỹ.
"Ngôn ngữ học nhận thức" mà Chu Hách Huyên đưa ra, không giống với ngôn ngữ học truyền thống đang là chủ lưu lúc bấy giờ, lại càng không giống với "ngôn ngữ học cấu trúc" mới phát triển. Điều này ngay lập tức đã khơi gợi sự hứng thú của rất nhiều nhà ngôn ngữ học Anh, và nghiễm nhiên đến giữa thập niên 30 đã hình thành một "trường phái London", sau đó lan truyền sang Mỹ và Pháp để hình thành "trường phái Paris", "trường phái New York".
Cách giải thích hoàn toàn mới về kịch Shakespeare của Chu Hách Huyên, ở Anh vẫn chưa có kết luận cuối cùng; người ủng hộ đông đảo, người phản đối cũng không ít. Trái lại, "ngôn ngữ học nhận thức" mà ông đề xuất lại nhanh chóng được truyền bá khắp nước Anh, đơm hoa kết trái và phát triển thêm nhiều nhánh.
Đến đầu thập niên 40, "Ngôn ngữ học nhận thức" cùng "Ngôn ngữ học cấu trúc" đã trở thành hai trường phái ngôn ngữ học mới nổi lớn nhất thế giới.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, "Ngôn ngữ học nhận thức" của Chu Hách Huyên thậm chí còn được một số học giả châu Âu sử dụng như một vũ khí chống lại chủ nghĩa phát xít. Bởi vì lý thuyết ngôn ngữ học này đặc biệt chú trọng đến đặc điểm nhận thức khác nhau của từng dân tộc, cùng với ảnh hưởng của chúng đối với sự biểu đạt ngôn ngữ, nên kết quả nghiên cứu của các h��c giả ở mỗi quốc gia đều mang đặc thù dân tộc rõ rệt.
Chu Hách Huyên cũng được công nhận là người sáng lập "Ngôn ngữ học nhận thức", có địa vị vô cùng quan trọng trong giới ngôn ngữ học. Trên thực tế, Chu Hách Huyên chỉ viết vỏn vẹn một luận văn, trong đó chủ yếu trình bày lý luận cơ sở của "Ngôn ngữ học nhận thức", còn các nội dung khác đều cần các nhà nghiên cứu sau này bổ sung thêm.
Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, khi hậu thế nhắc đến Chu Hách Huyên, danh hiệu "Nhà ngôn ngữ học" là không thể tách rời khỏi ông. Cũng không ai bày tỏ sự nghi ngờ về điều này, thậm chí một số nhà nghiên cứu về Chu Hách Huyên còn khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng Chu tiên sinh có thể nói hơn 20 ngôn ngữ và phương ngữ.
Kẻ tò mò còn thêu dệt những câu chuyện phiếm, chẳng hạn như việc Chu tiên sinh khi mới đến một quốc gia nào đó, dù bất đồng ngôn ngữ, đã cùng một cô gái địa phương yêu nhau và sống chung, rồi từ đó học được ngôn ngữ của nơi ấy. Những truyền thuyết tình yêu vô nghĩa này lại còn bị chuyển thể thành phim điện ảnh, kết quả là bị hậu nhân của Chu Hách Huyên kiện ra tòa.
Phiên bản chuyển ngữ này thuộc sở hữu độc quyền của truyen.free, cam kết đem lại trải nghiệm đọc mượt mà và sâu sắc nhất.