Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Địa Trung Hải Phách Chủ Chi Lộ - Chương 38 : Ngoại giao

Vào mùa thu năm 1887, Bismarck và Salisbury đã mở rộng Hiệp định Địa Trung Hải đến vùng Balkan.

Tháng 12 cùng năm, ba nước Anh, Ý, Áo đã gửi thông điệp và ký kết lần thứ hai Hiệp định Địa Trung Hải, thành lập một liên minh nhắm vào vấn đề Cận Đông của Nga.

Đây là sự điều chỉnh của Bismarck đối với hệ thống liên minh, nhằm thúc đẩy cục diện Anh, Ý, Áo kiềm chế Pháp, Nga ở khu vực Cận Đông, đồng thời ngăn chặn liên minh Pháp-Nga, đảm bảo vị thế của Đức ở lục địa châu Âu.

Bắt đầu từ những năm cuối thập niên 1880 của thế kỷ 19, Liên minh Ba Hoàng dần sụp đổ. Tuy nhiên, Đức vẫn duy trì quan hệ liên minh với Nga và Áo. Thời kỳ này được xem là đỉnh cao của chính sách ngoại giao "Vương cầu không rơi" của Bismarck.

Tháng 3 năm 1890, sau khi Bismarck từ chức, người kế nhiệm đã có sự thay đổi trong chính sách đối ngoại, khiến hệ thống liên minh dần đi đến hồi kết.

Một trong những điểm quan trọng nhất của chính sách đối ngoại mới của Đức là việc Hiệp ước Tái Bảo Hiểm (Rückversicherungsvertrag) không được gia hạn.

Sau khi Đức hủy bỏ Hiệp ước Tái Bảo Hiểm, tình hình ngoại giao của Nga ngày càng khó khăn. Buộc phải dựa vào Pháp, hai nước đã bắt đầu đàm phán liên minh từ năm 1891. Do hai bên Pháp và Nga không tin tưởng lẫn nhau, mãi đến năm 1894, liên minh Pháp-Nga mới chính thức được thành lập.

Dưới sự chỉ đạo của "chính sách mới", vào tháng 7 năm 1890, Đức đã ký kết Hiệp ước Helgoland–Zanzibar với Anh, giải quyết tranh chấp thuộc địa giữa hai nước.

Khi đó, điều này được xem là sự nhượng bộ lớn từ phía Đức, mục đích là nhằm lôi kéo Anh vào Liên minh Ba Hoàng.

Từ năm 1890 đến năm 1894, Đức nhiều lần thúc đẩy Anh mở rộng nghĩa vụ trong Hiệp định Địa Trung Hải. Đức cũng tiến hành các hoạt động thị uy ở Địa Trung Hải, nhằm thể hiện với thế giới lập trường "bốn nước đồng lòng nhất trí".

Trong bối cảnh đó, Ferdinand đã cử Đại giáo chủ Scrimenti đến thăm Nga, với hai mục đích chính: thứ nhất, xoa dịu phe thân Nga chủ đạo; thứ hai, cải thiện quan hệ Nga-Bulgaria mà không cần phải trả giá quá đắt, đồng thời có thể tranh thủ được sự ủng hộ mạnh mẽ.

Thời gian không còn nhiều, chỉ vài tháng nữa Bismarck sẽ từ chức và Đức sẽ hủy bỏ Hiệp ước Tái Bảo Hiểm. Vì vậy, việc Nga muốn phá vỡ thế bế tắc ngoại giao bằng cách lôi kéo Bulgaria là lẽ đương nhiên.

Trên thực tế, kể từ khi Liên minh Ba Hoàng thành lập, đã tồn tại nhiều mâu thuẫn sâu sắc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa Nga và Áo khó lòng hòa giải.

Năm 1885, Đông Rumelia bùng nổ một cuộc khởi nghĩa. Dân chúng đã lật đổ chính quyền hành chính Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ, tuyên bố thống nhất với Công quốc Bulgaria. Đại công tước Alexander được tôn lên làm vua của nước Bulgaria thống nhất.

Vốn dĩ chỉ là hành động giành độc lập của dân tộc Bulgaria, nhưng dưới sự can thiệp của các cường quốc châu Âu, vì tranh giành quyền kiểm soát Bulgaria, đã tạo ra cuộc khủng hoảng Bulgaria kéo dài hai năm.

Công quốc Bulgaria là một vị trí chiến lược quan trọng còn được giữ lại ở Balkan sau cuộc chiến Nga-Thổ năm 1878. Trong Hiệp ước Liên minh Ba Hoàng năm 1881 đã có quy định về sự thống nhất của Bulgaria. Tuy nhiên, do sự thay đổi trong quan hệ Nga-Bulgaria, Nga không thể tiếp tục kiểm soát chính quyền bù nhìn ở Bulgaria.

Đại công tước Alexander, hậu duệ của một gia đình quý tộc tiểu bang Đức và là cháu trai của hoàng hậu Nga, đã trở thành quân chủ của Công quốc Bulgaria vào năm 1879 dưới sự bảo trợ của Sa hoàng.

Sau khi lên nắm quyền, Đại công tước Alexander dần tỏ thái độ bất mãn với sự kiêu ngạo của các quan chức Nga đóng tại Bulgaria. Hai bên đã đàm phán nhiều lần nhưng không có kết quả. Để thoát khỏi sự kiểm soát của Nga, những hành động chống Nga của Đại công tước Alexander ngày càng rõ rệt.

Đế quốc Áo-Hung, mặc dù là đồng minh với Nga, nhưng cũng không muốn thấy Nga độc chiếm Bulgaria. Vì vậy, dưới sự đồng thuận của hai bên, Áo-Hung và Alexander bắt đầu xích lại gần nhau.

Sau khi quan hệ Nga-Bulgaria tan vỡ, Nga nhận thấy không thể tiếp tục kiểm soát chính phủ Bulgaria, nên bắt đầu ngăn cản Bulgaria thống nhất. Đồng thời, họ đe dọa rút quân chỉ huy và giải tán lực lượng quân sự Bulgaria.

Cùng lúc đó, Nga yêu cầu các cường quốc khác cùng nhau gây áp lực lên Bulgaria, buộc Đại công tước Alexander giải tán Bulgaria.

Trong hội nghị các cường quốc, mặc dù Đức đã đứng ra điều hòa và Áo-Hung ủng hộ Nga, nhưng Anh đã ngăn chặn, một phần vì lập trường của Đức và Áo không thực sự kiên định.

Cuối cùng, hai bên đạt được thỏa hiệp: Đại công tước Alexander đảm nhiệm tổng đốc Đông Rumelia, Bulgaria hoàn thành thống nhất trên thực tế, còn Thổ Nhĩ Kỳ giữ được chủ quyền trên danh nghĩa.

Tuy nhiên, điều này vẫn chưa kết thúc. Sự thống nhất của Bulgaria khiến Hy Lạp, Serbia và các nước nhỏ khác dòm ngó, hy vọng giành được phần lãnh thổ bồi thường.

Vua Milan của Serbia đến thăm Vienna vào tháng 9 với hy vọng nhận được sự ủng hộ của Áo-Hung về lãnh thổ. Nhưng khi nhận ra rằng ông không thể nhận được sự ủng hộ tại hội nghị các cường quốc, tháng 11, Serbia đã xuất binh xâm lược Bulgaria. Kết cục lại hoàn toàn bất ngờ: quân đội Serbia, vốn chiếm ưu thế tuyệt đối, đã bị Bulgaria đánh bại hoàn toàn. Quân Bulgaria thừa cơ chiếm lĩnh một số thành phố quan trọng của Serbia, tiến sát thủ đô của nước này.

Đế quốc Áo-Hung, để giữ gìn lợi ích ở vùng Balkan, đã can thiệp vào chiến tranh Serbo-Bulgaria. Điều này buộc Bulgaria phải rút quân, nhưng đồng thời cũng loại trừ Nga ra khỏi cuộc chơi. Cùng lúc đó, sự thất bại của Serbia cũng khiến phe thân Nga lên nắm quyền, gieo mầm mống cho những mâu thuẫn giữa Nga và Áo.

Nga, không cam chịu thất bại, đã lên kế hoạch đảo chính, lật đổ sự cai trị của Đại công tước Alexander. Nhưng sau đó, do sự can thiệp của Anh và Áo, tình hình đã vượt khỏi tầm kiểm soát của Nga. Ferdinand được tôn lên làm đại công mới, khiến quan hệ Nga-Áo trở nên tồi tệ.

Quan hệ Đức-Nga cũng không tốt đẹp như tưởng tượng. Hai bên đã nổ ra xung đột về vấn đề thương mại. Việc nông sản giá rẻ của Nga tràn vào thị trường Đức đã ảnh hưởng đến lợi ích của giới quý tộc Junker. Dưới sự can thiệp của họ, Đức đã đánh thuế nặng đối với nông sản Nga. Nga cũng trả đũa bằng cách đánh thuế nặng đối với các sản phẩm công nghiệp của Đức, khiến mâu thuẫn thương mại Đức-Nga bùng nổ.

Tháng 11 năm 1887, Đức cấm các ngân hàng trong nước bảo lãnh chứng khoán của Nga, thị trường vốn của Đức đóng cửa với Nga. Điều này thúc đẩy Nga hướng sang Pháp tìm kiếm hợp tác, và liên minh Đức-Nga bắt đầu dần đi đến hồi kết.

Cuối tháng 11 năm 1889, phái đoàn ngoại giao Bulgaria đã đến St. Petersburg. Tháng sau, Đại giáo chủ Scrimenti được Sa hoàng Aleksandr III tiếp kiến. Thế bế tắc ngoại giao Nga-Bulgaria kéo dài bốn năm cuối cùng đã bắt đầu có dấu hiệu hóa giải.

Đồng thời, Ferdinand, người phải đối mặt với các cường quốc, buộc phải thừa nhận chính phủ của Stam trong thời kỳ đó và đã ký kết một hiệp ước bí mật với Anh và Áo-Hung.

Anh và Áo đã giành được quyền ưu đãi thương mại đối với Bulgaria. Hai bên chỉ phải trả mức thuế rất thấp. Xét đến sự chênh lệch công nghiệp giữa hai bên, điều này là hoàn toàn bất công đối với Bulgaria.

Do việc điều chỉnh thuế quan, lực lượng Anh và Áo-Hung bắt đầu thâm nhập Bulgaria một cách mạnh mẽ hơn. Mặc dù phải trả giá đắt, chính phủ Ferdinand đã nhận được sự ủng hộ của Anh và Áo-Hung, khiến quan hệ song phương đạt được bước phát triển mới.

Về lâu dài, với ưu thế công nghiệp, Anh và Áo-Hung chiếm ưu thế trong thương mại với Bulgaria, điều này đã kìm hãm sự phát triển của giai cấp tư sản dân tộc Bulgaria.

May mắn thay, Ferdinand ngay từ đầu đã chuẩn bị phát triển chủ nghĩa tư bản quốc gia, dựa vào các chính sách ưu đãi và việc quản lý tài nguyên để cạnh tranh với các cường quốc. Ông không có ý định dựa vào giai cấp tư sản của các cường quốc, nếu không thì sự phát triển mà Bulgaria mong muốn sẽ khó như lên trời.

Tác phẩm biên tập này là tài sản trí tuệ của truyen.free.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free