(Đã dịch) Đường Tàn - Chương 168: Khai nguyên
Ngoài ra, Quảng Châu còn là nơi phụ trách thu gom cống vật từ các nước hải ngoại và quản lý việc thu thuế thị bạc, đồng thời là vị trí giám sát của viện.
Theo ghi chép của Lý Triệu đời Đường trong sách “Quốc sử bổ”, có đoạn: “Thuyền biển lớn ở Nam Hải, cũng như thuyền nước ngoài, mỗi năm đều đến An Nam, Quảng Châu. Thuyền của nước Sư Tử là lớn nhất, thang cao đến vài trượng, chất đầy hàng hóa quý báu. Khi thuyền đến, quan địa phương sẽ tấu trình, khiến vùng đất nhỏ trong quận trở nên nhộn nhịp. Có trưởng phiên làm chủ, quan Thị Bạc sẽ đăng ký các vật phẩm, thu thuế thuyền lớn, cấm mua bán trân dị. Có thương nhân nước ngoài dùng thủ đoạn lừa gạt bị tống vào ngục.”
Cái gọi là “thu thuế thuyền lớn” (nạp thuyền lớn chân) tức là việc thu thuế nhập khẩu theo một tỷ lệ nhất định đối với các thương thuyền lớn. Còn “cấm mua bán trân dị” (cấm trân dị) là việc quan phủ đ��c quyền thu mua các loại hàng hóa đặc biệt trong số hàng nhập khẩu, nghiêm cấm thương nhân lén lút mua bán những mặt hàng này trước khi quan phủ thu mua. Cuối đời Đường, sách Thượng thư của Lưu Dật Hiến về Nam Hải viết: “Nam Hải quản lý thực phẩm từ khắp nơi, có vàng, ngọc trai, vỏ sò, vảy đồi mồi, ngà voi, sừng tê giác và các loại hàng hóa khác.” Đây đều là những mặt hàng do quan phủ độc quyền thu mua.
Còn “đi lên phụng” là chỉ việc các sứ thần nước ngoài (phiên sử) đến cống nạp phẩm vật, đồng thời tiện thể giám sát và sắp xếp các công việc triều cống qua đường biển. Đây cũng là một việc làm rất béo bở. Ba yếu tố này, cùng với chức quyền và công việc chính của cơ quan Thị Bạc, đã tạo thành một trong những nguồn thu nhập quan trọng của “nội khố riêng của quân vương” (nhân quân cất giấu), được chuyển thẳng vào đại nội và kho tàng hoàng gia.
Khoản thu này hoàn toàn nằm ngoài hệ thống thuế ruộng đất và tô thuế hộ khẩu vốn đã tồn tại. Qua các đời, các hoàng đế dùng nó để hỗ trợ quân phí quốc gia, kinh phí và các khoản ban thưởng, cân bằng thu chi tài chính và là một nguồn tài nguyên bổ sung lớn. Thậm chí, nó còn là một phần trong hệ thống tài chính bốn nguồn của nhà Đường (buổi chiều Đường) được hình thành từ dưới trướng Tam Ty Sứ – cơ quan được mệnh danh là “kế tướng” bên ngoài, cùng với Bộ Hộ, Quản muối và sắt, và Đô chi các nha môn khác.
Chính vì vậy, nguồn lợi từ Thị Bạc có tầm quan trọng lớn đối với nội khố hoàng gia và tài chính quốc gia. Đến nỗi, khi quân Hoàng Sào công chiếm Quảng Châu và đòi làm Tiết Độ Sứ Lĩnh Nam, triều đình đã phản đối vô cùng mạnh mẽ. Tả Phó Xạ Ngu Hương tấu rằng: “Quảng Châu là nơi tập trung bảo vật do cơ quan Thị Bạc quản lý, há có thể để kẻ gian chiếm giữ?” Lại có lời tấu: “Nam Hải có lợi ích từ Thị Bạc, hằng năm cống nạp châu ngọc. Nếu để yêu tặc đoạt hết, quốc khố sẽ dần trở nên kiệt quệ.”
Khoản thu này trực tiếp chảy vào nội khố hoàng gia. Ở một khía cạnh nào đó, đây cũng là một thủ đoạn quan trọng để các hoàng đế nhà Đường (buổi chiều Đường), vốn c�� uy quyền ngày càng suy giảm, duy trì ảnh hưởng đối với triều đình. Đặc biệt là Đường Hi Tông – vị hoàng đế đương thời, người bị hậu thế gọi là “thiên tử mê Polo” hay “hoàng đế chọi ngỗng” – chỉ thích vui chơi xa hoa mà không màng chính sự, thường xuyên ban thưởng hào phóng đến mức làm cạn kiệt mọi kho tàng trong ngoài, từ nội khố riêng đến ngân khố triều đình. Thậm chí, hoạn quan Điền Lệnh Tư, kẻ nắm giữ triều chính, còn trực tiếp hạ lệnh ở một số thành phố trắng trợn cướp đoạt tiền bạc, hàng hóa của thương nhân và phú hộ dưới danh nghĩa trưng thu.
Giờ đây, nguồn thu này lại bị nghĩa quân cắt đứt một cách ác liệt, đánh thẳng vào túi tiền riêng của hoàng đế. Nếu sau này không phát sinh vấn đề thì mới là chuyện lạ.
Đương nhiên, phần lớn những khoản thu này không dễ dàng có được hay có thể trực tiếp sử dụng ngay. Đúng như câu ngạn ngữ “Không tích nửa bước, không thể đến ngàn dặm; không tích nhỏ lưu, không thể thành giang hải”, nên Chu Hoài An quyết định bắt đầu từ những việc dễ thực hiện và có th��� làm trước mắt.
Một trong những nhiệm vụ Chu Hoài An sắp xếp hiện tại là dẫn đội càn quét các từ đường và thần miếu đa dạng rải rác khắp các khu dân cư của người nước ngoài (phiên nhân). Mặc dù những nơi này đã sớm bị đập phá và cướp bóc, nhưng do ban đầu việc cướp phá diễn ra một cách hỗn loạn, không phân biệt giá trị, nên vẫn còn không ít vật phẩm bị bỏ sót vì những kẻ cướp không biết hàng. Vì vậy, Chu Hoài An chịu trách nhiệm tổ chức đội ngũ chuyên nghiệp để giám định, phân loại giá trị những di vật còn sót lại và tiến hành một quá trình cướp bóc có quy tắc nhằm thu về những món lợi tốt nhất.
Trong số đó, thu hoạch nhiều nhất không nghi ngờ gì là từ các thần từ, thần đường do người Thiên Trúc (Ấn Độ) xây dựng. Có thể nói, ngay cả một điện thờ nhỏ nhất cũng được nạm và bọc bằng vàng bạc, đá quý. Thần linh của họ thì vô số và phức tạp, các loại vật phẩm thờ cúng và trang trí, dù lớn hay nhỏ, cũng chi chít như sao trên trời.
Tiếp theo là miếu thờ Hỏa giáo của người Ba Tư. Mặc dù vẻ ngoài trông kh�� đơn giản, nhưng thực tế, để hiến tế Hỏa thần và các thiện thần tối cao, họ dùng toàn bộ là hương mộc và hương liệu quý giá, cùng với các loại bình tế lễ bằng vàng bạc khảm nạm tinh xảo. Nhiều vật phẩm trong số đó là những chiếc lồng sưởi lớn, thủy giám và nhiều dạng cấu tạo khác, thường được giấu kín dưới đáy ao hoặc trong các vò rượu lửa khiến người ngoài khó lòng phát hiện.
Sau đó mới là các miếu thờ Cảnh giáo (Jingjiao) của người Đại Tần (La Mã). Đây là một trong những giáo phái dị đoan chủ trương sùng bái thần tượng, từng được chấp thuận truyền đạo ở Trung Quốc sau khi tìm được con đường tiếp cận các tầng lớp thượng lưu và được Đường Thái Tông cùng các đời quân vương sau đó tán thành. Tôn giáo này đã từng có một thời kỳ hưng thịnh ở Trung Thổ, để lại cho hậu thế bia đá nổi tiếng “Cảnh giáo lưu hành Trung Quốc bi”.
Bên trong những miếu này không chỉ có vô vàn linh vị, bài vị tinh xảo theo phong cách Đông thổ, từ Thượng Đế (gọi là A La Ngọc Kha), Chúa Giê-su (Quang Minh Thánh nhân), các Đại Thiên Sứ Tiếp Dẫn Sứ cho đến 12 Pháp Vương thánh đồ lập đạo, thậm chí cả các đời quân vương Đại Đường từ Đường Thái Tông trở xuống. Họ cũng sở hữu không ít pháp khí và vật phẩm cúng tế chế tác từ kim loại quý hiếm và đá quý, tuy nhiên công nghệ và vẻ ngoài của chúng có phần kém hơn so với những nơi khác.
Trong số đó, nghèo nàn và đổ nát nhất không nghi ngờ gì là miếu của người Đại Thực. Ngoài một vài hoa văn trang trí tường bị đập nát rơi xuống, không còn bất kỳ thu hoạch nào khác. À không, không phải là không có thu hoạch gì, mười mấy thanh loan đao trang trí tinh xảo đã được ta lén lút cất giữ, dùng làm vật chuẩn bị hoặc lễ vật cho những việc khác.
Trong quá trình thanh tra và tịch thu các chùa chiền, thần từ, thậm chí còn phát hiện một vài ngôi chùa bề ngoài mang danh Tịnh Độ tông, nhưng bên trong lại lén lút truyền bá Mật tông. Nhờ đó mà thu hoạch được khá nhiều.
Tuy nhiên, nghĩ kỹ thì đây cũng là lẽ đương nhiên. Quảng Châu vốn là một trong những điểm khởi đầu sớm nhất của con đường tơ lụa trên biển và tuyến đường truyền bá Phật pháp. Trong lịch sử, không ít cao tăng đại đức như Nghĩa Tịnh, Pháp Hiển đã thường xuyên lui tới nơi đây. Vào thời Đường, đây lại là giai đoạn cuối của sự hưng thịnh và truyền bá Mật tông Đông phái do ba vị Đại sư Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí và Bất Không phát triển. Vì vậy, cho dù đã trải qua sự kiện "Võ Tông diệt Phật", với lệnh hủy diệt và cấm đoán hàng loạt chùa chiền, thì việc một hai ngôi chùa may mắn sống sót tại bến cảng lớn ở hải ngoại này cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Chỉ là, so với Mật tông được truyền vào Thổ Phiên (Tây Tạng) sau này, kết hợp với giáo lý bản địa để tạo nên thứ giáo lý kỳ dị, tàn nhẫn và biến thái, thì Mật tông Đại Đường (để thích ứng với việc truyền giáo) trên thực tế lại chú trọng hơn đến các lợi ích dưỡng sinh và thuật phòng the dành cho tầng lớp thượng lưu như đế vương, tướng lĩnh. Vì vậy, sau khi tăng nhân Không Hải từ Phù Tang (Nhật Bản) vượt biển sang cầu pháp và truyền giáo về Nhật Bản cổ đại, Mật tông ở đó không khỏi biến thành một chủ nghĩa cực đoan, không kiêng kỵ tửu sắc, hôn nhân, tiền tài, và bắt đầu nhấn mạnh việc dùng nữ sắc cùng các phương tiện thân xác để tu luyện, tìm kiếm con đường giải thoát cho bản thân.
Đương nhiên, Chu Hoài An công khai giải thích rằng những điều đó đều là mượn danh Mật tông để lừa bịp, là tà ma ngoại đạo dùng thủ đoạn phi pháp để thỏa mãn dục vọng cá nhân, chứ không phải là tôn chỉ Phật pháp chân chính. Bởi vậy, theo ông ta, những kẻ này đáng bị tiêu diệt không chút nương tay.
Trong khoảng thời gian kinh doanh và mở rộng này, mặc dù số lượng thuyền buôn tiến vào Quảng Châu vẫn chưa nhiều, và đa số là thuyền từ các nước lân cận như Lục Chân, Lân Ấp, Phiêu Quốc, Phù Nam Quốc, cùng các thương thuyền khác; nhưng Chu Hoài An cũng nhân cơ hội đó đã thiết lập được hai con đường bí mật chuyên để chuyển khẩu hàng phi pháp.
Một con đường là tuyến hàng hải đi về phía bắc, do thương nhân Tác La Mạnh, người thường xuyên qua lại bờ biển Mân Việt, phụ trách cùng với mười mấy chiếc thuyền buôn của gia tộc hắn. Con đường này chuyên bán các loại hàng lậu có giá trị như hương liệu, thuốc quý, châu báu.
Con đường thứ hai là tuyến hàng hải đi về phía tây, dùng để phân phối một số đặc sản nhà Đường do Nộ Phong Doanh kiểm soát ra nước ngoài. Con đường này do gã béo Lỗ – một người tự xưng là đã quy phục và có sức khỏe tốt – phụ trách điều hành. Hiện tại, nó tạm thời chỉ hoạt động giữa Lôi Châu và Hải Nam, với khả năng tiếp nhận buôn bán thụ động tại địa phương. Tuy nhiên, sau khi An Nam Đô Hộ Phủ và Tĩnh Hải Quân đầu hàng và các cảng biển được mở cửa trở lại, con đường này dự kiến sẽ được mở rộng hơn nữa.
Theo lời cam đoan chắc nịch của gã béo Lỗ, chỉ cần không còn sự cản trở từ các khoản thuế đơn lẻ trả lại, dựa vào mối quan hệ và năng lực cũ của hắn, việc kinh doanh ít nhất có thể trực tiếp vươn tới Ngũ Phương Thiên Trúc (Ấn Độ). Sau đó, hắn sẽ từ từ tính toán mở rộng hơn nữa đến các vùng Đại Thực (Ả Rập) và thậm chí là các quốc gia sản xuất nô lệ Côn Luân, Dạ Xoa, hoặc các vùng thuộc quyền cai trị của Đại Tần (La Mã) ở Châu Âu.
Trong khi phân đoàn Nộ Phong Doanh đóng quân tại địa phương, Chu Hoài An nhận báo cáo tình hình hàng ngày và tổng kết trương mục.
“Quân phủ sai người đến hiệp lực, đã đến doanh trại rồi…”
Gia Tòng Chu báo cáo khi đang thực hiện nhiệm vụ ở đó.
“Đây là ai…”
Sau đó, Chu Hoài An gặp một nhóm người trông có vẻ lạ lùng đứng bên dưới.
“Họ à, đều là lũ con hoang của người Hồ…”
Lâm Ngôn, người phụ trách dẫn đội, nói với giọng điệu hiển nhiên.
“Đều là con hoang của những người Hồ khỏe mạnh từ các đời trước vượt biển đến đây… Trong thành châu, hầu như khắp đường đều là chúng… Đại đa số là những đứa trẻ bị bỏ rơi bởi các kỹ nữ…”
“Sao toàn là nam giới vậy…”
Chu Hoài An nhìn nhóm người với vẻ mặt khác nhau ấy, chợt nảy sinh nghi vấn.
“Nếu là nữ thì còn đỡ, đã có những kỹ viện (hát cửa sổ nhỏ) nhận nuôi rồi.”
Lâm Ngôn cười cười nói:
“Chỉ có nam giới mới thường bị bỏ rơi thôi…”
“Những đứa có thể sống sót đến tuổi trưởng thành cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay… May mắn thì được gia đình giàu có thu nhận làm nô tì, đó đã là một chuyện may mắn rồi.”
Theo giải thích của Lâm Ngôn, những đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi này, cho dù có thể sống đến lớn, cũng ít nhiều mang trong mình một phần huyết thống ngoại tộc đặc thù. Vì vậy, trong xã hội bản địa, chúng không tránh khỏi bị đại đa số dân chúng (phổ la đại chúng) kỳ thị và xa lánh ngầm bởi tư tưởng “không phải chủng tộc ta”. Lâu dài, chúng chỉ có thể sống ở tầng lớp thấp nhất trong phố phường, làm những nghề tiện hạ để kiếm sống.
Do đó, trong chiến dịch chiếm Quảng Châu lần này, với chiến thắng dễ dàng nhờ nội ứng ngoại hợp, chúng cũng được xem là một trong những đoàn thể đóng góp công sức lớn. Sau cuộc chiến, một phần trong số chúng, những người khỏe mạnh và gan dạ, được chọn lọc để thành lập một đội ngũ riêng mang tên "Doanh Xung Phong". Phần lớn còn lại bị loại, thì bị đưa về dưới trư���ng Chu Hoài An, đảm nhiệm công việc lao động cưỡng bức và cu li theo một nghĩa nào đó.
Tuy nhiên, đối với Chu Hoài An, giá trị của họ không chỉ dừng lại ở đó. Bởi vì đã sống từ nhỏ ở tầng lớp thấp nhất phố phường và quen thuộc mọi ngóc ngách trong và ngoài thành Quảng Châu, họ hiển nhiên còn có nhiều tác dụng hơn.
Do vụ ám sát tại tiệc rượu gây chấn động, dẫn đến việc ngày nay có các cuộc hành động "thắt chặt" quy mô lớn trong ba tầng khu vực nội thành Quảng Châu, cùng với việc truy tìm nguồn gốc, thanh tra và tịch thu rất nhiều tài sản. Người ta đồn rằng, ngay trên chợ sáng bên ngoài bức tường phía đông núi khỏe mạnh (núi Nại), đã có hơn trăm cái đầu người bị chặt rơi.
Vì vậy, Chu Hoài An cảm thấy mình cần nhân cơ hội này để làm gì đó, nhằm đảm bảo lợi ích cá nhân và an toàn cho môi trường xung quanh.
Bản văn này thuộc về truyen.free, chỉ được đọc tại đây mà không được sao chép hay phân phối dưới bất kỳ hình thức nào.