(Đã dịch) Ngã Cấp Huyền Đức Đương Chủ Công (Ta Cho Huyền Đức Làm Chủ Công) - Chương 779: Để cho người mong đợi Khổng Minh
Tào Tháo lẽ nào chưa từng nghĩ đến Lưu Kiệm sẽ xây dựng thủy quân ở Từ Châu và Thanh Châu, rồi từ biển khơi đánh úp sau lưng mình sao?
Đương nhiên ông ấy đã nghĩ đến rồi, không chỉ Tào Tháo mà Chu Du, Tào Nhân cùng những người kh��c cũng đã lường trước điều này.
Thế nhưng, dù biết vậy, Tào Tháo vẫn cho xây dựng cảng biển tại Giang Đông để giao thương với Lưu Kiệm.
Vậy nguyên nhân là gì?
Bởi lẽ, Tào Tháo hiểu rất rõ rằng, cho dù ông không xây cảng ở Giang Đông, nếu Lưu Kiệm muốn tấn công sâu vào nội địa Giang Đông bằng đường biển, điều đó vẫn hoàn toàn khả thi.
Việc ông ấy có xây cảng hay không và việc giao thương với phương Bắc là hai chuyện hoàn toàn khác biệt.
Xây dựng cảng biển, ít nhất ông ấy có thể thông qua việc giao thương với phương Bắc để thúc đẩy kinh tế Giang Đông phát triển, khiến vùng đất này trở nên giàu mạnh.
Thực tế, Tào Tháo đã nghĩ đến, nếu Lưu Kiệm muốn vượt biển tấn công vào trung tâm Giang Đông, cứ để hắn đến.
Giang Đông, nơi được coi là trung tâm, tuy không có nhiều ưu thế khác nhưng lại có địa thế rộng lớn.
Mức độ khai phá đất đai ở Giang Nam còn rất hạn chế.
Trong khi đó, Giang Đông lại có địa hình vô cùng rộng lớn, diện tích của nó thậm chí gần bằng cả phương Bắc.
Nếu đội tàu của Lưu Kiệm t��n công Giang Đông từ biển, binh lính của hắn chắc chắn sẽ không có nhiều kỵ binh.
Một đội quân phương Bắc không có kỵ binh thì chẳng có gì đáng ngại.
Hơn nữa, do khả năng vận chuyển của tàu thuyền có hạn, họ thậm chí không thể mang theo nhiều giáp trụ.
Nếu vượt biển mà đến, điều đó đồng nghĩa với việc họ sẽ tự cắt đứt đường tiếp tế lương thảo của mình.
Một khi họ đặt chân vào Giang Đông mà không đủ tiếp tế, những binh lính này sẽ trở thành cá nằm trên thớt.
Tào Tháo không tin rằng các tuyến phòng thủ của ông ở Giang Đông lại không thể ngăn cản những binh sĩ không có kỵ binh và lương thảo đó.
Để đề phòng Lưu Kiệm vượt biển tấn công trung tâm Giang Đông, ông đã cho xây dựng rất nhiều thành trì, pháo đài và cả các trạm phong hỏa xung quanh các bến cảng.
Đồng thời, ông ra lệnh di chuyển lương thảo dự trữ vào các thành lớn sâu trong nội địa Giang Đông, chỉ để lại một lượng nhỏ tại các kho ven biển.
Một khi quân của Lưu Kiệm đổ bộ, Tào Tháo sẽ lệnh cho tướng sĩ ở các trung tâm Giang Đông chỉ cố thủ chứ không tấn công, nhằm cầm chân đối phương.
Không lương thảo, không kỵ binh, Tào Tháo tin rằng quân địch sẽ tự tan rã hoặc bị tiêu diệt.
...
Cùng lúc đó, quân đội của Lưu Kiệm đã từ Thành Đô tiến về phía Kinh Châu.
Lưu Kiệm vừa dẫn quân khởi hành, vừa trầm tư về tương lai.
Theo Lưu Kiệm, ông đã nắm chắc phần thắng, giờ là lúc chuẩn bị cho những kế hoạch tiếp theo.
Ông bắt đầu xây dựng ý tưởng chiến lược cho Đại Hán đế quốc sau khi thống nhất.
Những vấn đề Lưu Kiệm cần cân nhắc lúc này đã khác trước rất nhiều.
Trước kia là tư tưởng tranh bá thiên hạ, giờ là tư duy của một đế vương.
Với tư cách là một đế vương, người đứng đầu quốc gia, ông cần suy tính cách thức mở rộng không gian sinh tồn cho Đại Hán trong tương lai, khai phá Giang Nam, thiết lập các vùng định cư ở Tây Vực và Nam Cương, và vươn ra biển lớn chinh phục Oa đảo.
Làm thế nào để tiếp tục kiềm chế và làm suy yếu thế lực của hào cường, sĩ tộc; làm thế nào để tăng cường tập quyền trung ương, nâng cao sức sản xuất và mở rộng giáo dục.
Trong số đó, điều quan trọng nhất chính là khai phá Giang Nam.
Đối với Đại Hán đế quốc, phương Bắc là một vựa lúa lớn.
Tuy nhiên, muốn xưng hùng hải ngoại, tất yếu phải khai phá phương Nam.
Việc khai phá Giang Nam đòi hỏi trước hết phải bình định Tào Tháo, quét sạch các thế lực hào cường lớn ở Giang Nam, sau đó thực hiện chính sách mới tại đây. Từng bước một, từ lưu vực Trường Giang, tiến hành khai phá và di dân về phía Nam, biến những vùng đất Giang Nam có thể trồng hai vụ một năm thành hiện thực.
Sau đó nữa, là khai phá đất Lĩnh Nam, biến những vùng đất có thể trồng ba vụ một năm thành hiện thực, không ngừng nâng cao sức sản xuất, tăng sản lượng cây lương thực để củng cố quốc lực.
Đây là đại kế ngàn năm, là quốc sách vạn đời, không phải một mình ông hay một triều đại Đại Hán có thể hoàn thành, mà cần sự khai phá không ngừng của nhiều thế hệ.
Trước đây, Lưu Kiệm từng nghĩ rằng với sức sản xuất hiện tại, Trung Hoa đại địa không thể nuôi sống quá nhiều người dân, và khi dân số đạt đến giới hạn, sẽ tất yếu dẫn đến chia cắt và loạn lạc.
Nhưng sau khi ông điều hành Hà Bắc, trấn áp hào cường, khai khẩn đất hoang và áp dụng chế độ đồn điền, Lưu Kiệm nhận ra rằng sức sản xuất của Trung Hoa đại địa thực sự có thể nâng cao, thậm chí là nâng cao đáng kể.
Nếu không phải vậy, làm sao chỉ dựa vào vài chục năm khai phá ở Hà Bắc mà ông có thể từng bước thâu tóm cả thiên hạ?
Nguyên nhân chủ yếu là vì từ ban đầu, giai cấp địa chủ hào cường nắm gi��� phần lớn ruộng đất nhưng lại không chịu khai khẩn đất hoang.
Họ chỉ biết chiếm giữ những mảnh đất màu mỡ có sẵn. Còn đất hoang, họ chẳng bận tâm. Miễn sao cuộc sống qua ngày, dân đen sống chết ra sao họ cũng không quan tâm; điều duy nhất họ để ý là ruộng đất của mình có màu mỡ hay không.
Khai khẩn đất hoang cần đầu tư, cần nhân lực và vật lực, phải mất nhiều năm mới có thể sinh lời. Một quá trình như vậy, giai cấp địa chủ hào cường không thể nào chấp nhận được.
Điều họ chấp nhận được, chính là biến những mảnh đất đã được lê dân khai khẩn thành của riêng mình.
Người dân bị buộc rời bỏ đất đai, con đường duy nhất còn lại cho họ là khai khẩn những vùng đất hoang khác.
Nhưng bản thân việc khai khẩn đất hoang lại cần lương thực đầu tư, cần người tổ chức. Các vương triều cổ đại rất ít có nền tảng tổ chức vững mạnh, “Hoàng quyền không xuống đến tận làng xã”, vậy thì trong làng, địa chủ hào cường nào lại chịu bỏ tiền của mình ra làm chuyện như thế?
Lê dân mất đất, không có đủ lư��ng thực để duy trì cuộc sống cho đến khi đất hoang được khai khẩn và có thu hoạch. Trong quá trình này, họ hoặc chết đói, hoặc là nổi dậy khởi nghĩa.
Hàng loạt đất hoang còn chưa kịp được khai khẩn thì vương triều đã diệt vong, dân chúng chết gần hết, và một vòng luân hồi mới lại bắt đầu.
Chính vì thế, từ lưu vực Hoàng Hà đến lưu vực Trường Giang rồi đến lưu vực Châu Giang, những vùng đất màu mỡ có thể trồng ba vụ một năm đó chẳng ai khai phá, chẳng ai quan tâm.
Không có sức tổ chức, Hoàng quyền không vươn tới thôn làng, tư nhân không đời nào muốn bỏ chi phí lớn để kiến thiết. Trong suốt hai ngàn năm lịch sử, chỉ có quốc gia, chỉ có bậc quân vương mới có thể và sẵn lòng làm điều này.
Đáng tiếc thay, dưới thời Đại Hán, những quân vương đạt đến tầm vóc đó lại quá ít ỏi.
Cho đến cái gọi là ‘y quan nam độ’, suốt bốn trăm năm của nhà Hán, không hề có một vị đế vương hùng mạnh nào thực sự mở rộng được không gian sinh tồn cho toàn dân tộc.
Điều đáng buồn cười nhất là việc khai phá những vùng đ��t màu mỡ ấy lại xuất phát từ việc chính quyền Trung Nguyên nhiều lần bị buộc phải dời đô về phương Nam, vì sự tồn vong mà khai phá Giang Nam và Lĩnh Nam.
Họ bị các dân tộc du mục phương Bắc bức bách.
Một sự khai phá và tiến thủ đầy bi ai!
Đại khai phá Giang Nam là việc bắt buộc phải làm, và Lưu Kiệm kiên quyết thực hiện điều này.
Nếu Giang Nam không được khai phá, Trung Hoa sẽ không thể có bước nhảy vọt về chất.
Tuy nhiên, may mắn là tình hình Giang Nam hiện tại không đến nỗi quá tồi tệ.
Sau khi Tào Tháo đến Dương Châu, mặc dù không hoàn toàn thực hiện chính sách như ở phương Bắc, nhưng ông vẫn luôn học hỏi theo cách của Lưu Kiệm.
Nhiều hào cường ở Giang Nam đã bị Tào Tháo chèn ép, hơn nữa Tào Tháo còn đẩy mạnh đồn điền ở Giang Nam. Điều này sẽ có lợi cho Lưu Kiệm trong việc tiếp quản Giang Nam từ tay ông ta sau này.
Hơn nữa, việc điều Thái Sử Từ chỉ huy hạm đội lớn tấn công vào sâu trong nội địa Giang Nam từ phía sau Tào Tháo, là cách nhanh nhất để giải quyết vấn đề Giang Nam.
Tuy nhiên, năng lực vận chuyển vật liệu của hạm đội có giới hạn, e rằng lương thực và ngựa chiến sẽ không thể cung ứng đủ.
Một khi quân đội đơn độc xâm nhập, rất có thể sẽ bị vây khốn đến chết ở Giang Nam.
Thế nhưng, về điểm này, Gia Cát Lượng năm xưa đã vạch ra con đường rồi.
Năm đó, Gia Cát Lượng đã đàm phán với Tào Tháo về việc giao thương với Giang Nam, đồng thời thuyết phục Tào Tháo xây dựng các bến cảng ven biển Giang Nam để giao dịch với phương Bắc.
Khi đó, để đạt được thỏa thuận này, Gia Cát Lượng thậm chí đã phải nhượng bộ rất nhiều.
Vì sao ư? Chính là vì ngày hôm nay.
Việc giao thương tại các bến cảng không chỉ để hạm đội của Thái Sử Từ đổ bộ.
Mà là để tăng cường mối liên hệ giữa Giang Nam và phương Bắc.
Đưa thêm hàng hóa từ phương Bắc về Giang Nam.
Việc đưa thêm hàng hóa từ phương Bắc về Giang Nam thông qua giao thương, ngoài việc làm Giang Nam giàu có hơn, còn sẽ tạo ra điều gì?
Đó chính là tạo ra những chuỗi lợi ích đan xen.
Hiện tại, rất nhiều sĩ tộc lớn cùng các hào cường ở sáu quận Giang Đông, sau khi bị Tào Tháo từng bước áp chế, đã phải dựa vào việc giao thương với phương Bắc để duy trì gia tộc.
Hàng hóa phương Bắc được đưa về Giang Nam, và họ chính là những thương nhân trung gian.
Chính mối lợi này giúp họ duy trì cuộc sống xa hoa bậc nhất ở Giang Nam.
Điều này tạo nên gì?
Điều này có nghĩa là, nếu phương Bắc cắt đứt giao thương với Giang Nam, những hào cường hàng đầu này sẽ ngay lập tức bị đẩy khỏi đỉnh cao quyền lực.
Nói cách khác, theo một ý nghĩa nào đó, những người này đã bị Hiệp hội Thương mại Hà Bắc trói buộc chặt chẽ.
Nếu Thái Sử Từ đổ bộ vào Giang Nam... thì thông qua mạng lưới lợi ích mà hiệp hội thương mại phương Bắc đã tạo dựng, những hào cường và sĩ tộc lớn này sẽ buộc phải thỏa hiệp, ngấm ngầm tiếp tế lương thảo, thậm chí binh khí và nhân lực cho Thái Sử Từ.
Như vậy, việc hậu cần cho Thái Sử Từ ở Giang Nam sẽ được đảm bảo.
Nghĩ đến đó, Lưu Kiệm không khỏi nở một nụ cười.
Đợi đến khi thiên hạ thái bình...
Cũng là lúc đưa Gia Cát Lượng vào triều đình để tr��� thành một trụ cột quốc gia.
Để vị Thừa tướng Gia Cát trong lịch sử được chuyên tâm trị quốc, không còn phải lo lắng về Bắc phạt nữa, vậy thì cuối cùng Gia Cát Lượng sẽ trở thành một nhân vật vĩ đại đến nhường nào?
Thật đáng để mong đợi biết bao.
Bản quyền chuyển ngữ thuộc về truyen.free, nơi câu chuyện tìm thấy tiếng nói mới.