Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Những Năm Đó Ta Bán Hung Trạch - Chương 23: Điều nghiên viên

Chúng tôi cũng chẳng sợ mấy trò cười của các anh. Chôn chân ở nơi thâm sơn cùng cốc thế này, hỏi có mấy người được học hành tử tế? Hồi ấy, mấy thanh niên chúng tôi cứ ngỡ đây là cán bộ khảo sát đang dùng công nghệ cao để thăm dò mỏ dầu. Chẳng ai nghĩ ngợi gì nhiều. Vị cán bộ khảo sát kia cũng không nán lại làng lâu, mặt sầm sì rồi bỏ về. Trông ông ta vô cùng bực bội. Dân làng, trừ trưởng thôn lên tiếng hỏi han vài câu, ai nấy đều không dám hé răng.

Giờ nghĩ lại mới thấy hối hận làm sao, giá mà ngày ấy không để ông ta bỏ đi. Có lẽ nơi này đã không đến nỗi.

Từ khi vị cán bộ khảo sát kia rời đi, làng liên tiếp gặp vận rủi. Đầu tiên là vợ trẻ nhà lão Vương ở đầu làng khó sinh, cả mẹ lẫn con đều không giữ được. Đem lên máy cày tính đưa ra thị trấn, nhưng mới đi được nửa đường thì người đã lạnh ngắt. Hồi ấy khác xa bây giờ. Mọi nhà đều nghèo khổ, chuyện chết một hai người thực sự chẳng phải lạ lẫm gì. Cả làng giúp lo liệu tang sự, còn cuộc sống thì vẫn phải tiếp diễn. Giữa tiết trời băng giá, ra khỏi nhà nhổ nước bọt cũng đóng thành cục đá ngay. Vì thế thi thể chắc chắn không hỏng được, cũng chẳng cần vội vàng chôn cất. Theo lệ làng chúng tôi thì phải đặt xác ba ngày. Lão Vương vốn đã nghèo, giờ lại mất vợ, trong nhà còn hai đứa con thơ dại. Việc canh giữ thi thể này, vẫn là do dân làng giúp sức.

Nhưng ai ngờ, hai ngày đầu canh giữ thì mọi thứ vẫn bình thường. Ngay cả gió cũng chẳng có. Thế nhưng đến đêm thứ ba, gió lớn cứ rít "ù ù" luồn qua những khe hở cửa sổ, chui thẳng vào trong phòng. Lấy chăn bịt kín cửa sổ cũng chẳng ăn thua.

Lão Phùng vừa nói vừa dụi mắt, rồi bảo: "Ông chủ Giang, cho điếu thuốc hút cái coi." Lão nhận điếu thuốc tôi đưa rồi kể tiếp: "Đêm ấy tôi cũng có mặt. Lẽ ra buổi đầu hôm là đến lượt tôi canh, nhưng không hiểu sao con heo trong chuồng bỗng dưng phát bệnh lạ, cứ nôn mửa, quẫy đạp, rống lên suốt cả nửa đêm." Tôi đành phải đổi ca với người khác trong làng để canh vào nửa đêm. Canh với tôi còn có ông Tứ đại gia. Hai chúng tôi, đêm lạnh run người, cứ thế mà hút hết gói thuốc này đến gói thuốc khác. Đến lúc hút hết thuốc, tôi quay về nhà lấy thêm. Khi tôi trở lại, đã thấy Tứ đại gia bất tỉnh nhân sự. Vợ lão Vương, vốn đang nằm yên vị trên ván quan tài, trời đất ơi, lại lật sấp người qua rồi.

Hồi ấy tôi còn trẻ, đã thấy cảnh này bao giờ đâu. Sợ đến mức đái cả ra quần. Trong làng thì cũng có nghe kể chuyện lên đồng, nhưng toàn là mấy ông bà già xem, không cho tôi lại gần. Đến lúc chứng kiến cảnh này, tôi cũng hoảng hồn, quên cả cứu người, quên cả chạy thoát thân. Mãi một lúc sau tôi mới cử động được, nhưng chưa kịp chạy ra ngoài thì, anh nói xem thế nào? Trời ạ, vợ lão Vương lại 'lải nhải' theo tôi đến sát bên.

Lão Phùng hít một hơi thuốc thật sâu. Có thể thấy ám ảnh năm xưa đến giờ vẫn chưa hoàn toàn tan biến.

Tôi vội giục: "Nói nhanh đi, hai người nói chuyện gì?"

Lão Phùng đáp: "Dám nói chuyện gì chứ. Tôi chỉ nghe thấy giọng vợ lão Vương the thé, nói những câu gì mà nghe rợn người lắm. Sau đó tôi chẳng nghe thấy gì nữa, chỉ biết cắm đầu chạy về nhà để báo cho mọi người!"

Trong làng nghe tiếng tôi kêu la thất thanh chẳng khác gì tiếng heo bị chọc tiết, tưởng có hổ tới nên ai nấy đều vác giáo mác ra. Tôi cũng chẳng nói được lời nào rành mạch, chỉ có thể ú ớ bảo họ đi xem. Thế là mọi người mới cõng Tứ đại gia của tôi về.

Cho Tứ đại gia uống rượu, ông ấy mới dần tỉnh lại. Tứ đại gia vẫn còn lơ mơ, nói mãi cũng chẳng thành lời. Ông ���y chỉ nói rằng nghe thấy có người gọi mình, bảo kéo ông ấy đi đâu đó. Rồi ông ấy bất tỉnh nhân sự luôn.

Chuyện động trời này khiến cả làng náo loạn. Vợ lão Vương được đem chôn cất vội vàng ngay trước khi trời sáng hẳn.

Ngày hôm sau, lại mời thầy cúng trong trấn đến xem xét. Nhưng ai ngờ, đây chỉ là khởi đầu, sau đó thì những chuyện tương tự cứ thế nổ ra như bắp rang vậy. Mỗi lần đều có người chết, cả năm ấy hầu như không lúc nào ngớt.

Tôi càng nghe càng mơ hồ, bèn hỏi: "Những cán bộ khảo sát kia có trở lại không? Ý ông là chuyện trong làng có liên quan đến vị cán bộ khảo sát nào sao?"

Lão Khâu đáp: "Cũng không hẳn vậy! Những cán bộ khảo sát kia vẫn thường xuyên ghé qua, có khi nửa tháng, có khi một tuần. Mà mỗi lần đến lại chẳng phải cùng một người!"

Tôi hỏi: "Những cán bộ khảo sát đó mỗi lần đến đều làm gì? Họ đốt thứ gì ở đây? Có nói lý do tại sao phải đốt không?"

Lão Khâu lắc đầu: "Cũng chẳng có. Ai mà dám hỏi chứ. Hồi ấy người ta đồn rằng yêu quái trong núi không muốn cho người ta khai thác mỏ dầu trong địa phận của chúng, nên mới gây ra chuyện ồn ào. Thầy cúng cũng không trấn áp được. Biện pháp duy nhất có thể xoay sở ra chẳng phải là trông cậy vào mấy người công nhân sao? Ai mà dám chặt đứt con đường sống này chứ! Cán bộ khảo sát không nói, chúng tôi hỏi cũng vô ích. Hơn nữa, mỗi lần những người đó đến, sắc mặt ai nấy đều khó coi, nên càng chẳng ai dám hé răng!"

Cái năm ấy, mỗi khi nhớ lại thì lòng tôi lại quặn thắt.

Nhưng ai ngờ, sang năm thứ hai, người lớn thì chẳng sao, còn lũ trẻ lại cứ đứa này đến đứa khác chết yểu. Dù là còn bế ngửa hay đã biết chạy lăng xăng, tất cả đều không còn một mống. Các kiểu chết đủ cả, thật sự là thảm khốc vô cùng.

Thế nhưng năm thứ hai ấy, mấy vị cán bộ khảo sát lại càng chăm chỉ hơn, có khi buổi tối một người đến, thì ngày hôm sau ban ngày lại có người khác đến nữa.

Đến gần đầu mùa xuân, bỗng lại có một nhóm cán bộ khảo sát khác kéo đến. Lần này họ trông khá đàng hoàng, mặc đồng phục, đội mũ chỉnh tề. Trong nhóm cán bộ khảo sát này có một người vô cùng kỳ lạ. Người ta nói với dân làng rằng vị cán bộ này bị bệnh sởi, không được gặp gió, nên che kín mít cả đầu, chẳng ai phân biệt được là nam hay nữ. Ba cán bộ khảo sát này vào hầm trú ẩn ở lì ba ngày ba đêm, không ăn không uống, thậm chí không hề giao tiếp với ai. Chỉ thấy khói từ ống khói bốc lên không ngớt. Cuối cùng, sau khi những người đó đi ra, vị cán bộ khảo sát bịt đầu kín mít kia đã biến mất tăm. Tôi cũng không rõ là ông ta đã khỏi bệnh hay là có chuyện gì khác. Người cầm đầu nhóm này là một gã đàn ông lớn tuổi. Sau khi ra ngoài, ông ta một mình đến nhà trưởng thôn, đuổi vợ con trưởng thôn ra ngoài rồi nói chuyện với ông ta một hồi lâu. Cuối cùng mới dẫn đoàn người rời đi.

Trưởng thôn sau đó đi ra, tập hợp cả làng lại và nói rằng chuyện trong thôn là do có sâm tinh trong rừng gây ra. Mấy vị cán bộ khảo sát này sẽ giúp giải quyết, dặn dò chúng tôi không ai được phép ra khỏi làng, bằng không thì khó mà giữ được cái mạng. Nghe nói thế, cả làng ai nấy đều không dám trái lời. Dân làng hàng chục hộ lúc này chẳng còn trông mong gì chuyện đi làm công nhân nữa, chỉ cần đừng để dân làng tuyệt giống, thì mọi chuyện đều dễ nói.

Sau đó, những cán bộ khảo sát kia vẫn thường xuyên lui tới, kéo dài gần nửa năm trời. Họ đốt bao nhiêu thứ dưới hầm, từng đợt không ngớt. Có mấy bận tôi đi xem tro tàn, cũng chẳng nhận ra là họ đã đốt những gì. Cũng trông mong vào mấy ông cán bộ này có thể giải quyết chuyện trong làng, nhưng mấy tháng sau, vẫn chẳng thấy nhà nào có thêm đứa con nào cả. Dân làng không đi ra ngoài, thì chuyện này làm sao mà lan truyền được? Vốn dĩ phụ nữ làng khác còn có thể gả về, giờ thì hay rồi, sợ đến mức chẳng ai dám đến làng để xem mặt nữa. Cứ đà này thì sớm muộn gì cái làng này cũng sẽ biến mất!

Cả làng không còn chỗ mà khóc, bèn kéo đến nhà trưởng thôn làm ầm ĩ. Trưởng thôn chẳng còn cách nào, đành phải chờ đến khi mấy cán bộ khảo sát đó đến, rồi đi hỏi xem bao giờ làng mới có thể sống lại. Lúc này, phía bên kia quả thật đưa ra một biện pháp, chết tiệt, đây mà gọi là biện pháp gì chứ!

Nghe đến đây, trong lòng tôi đã mường tượng ra đôi chút. Chắc chắn cái gọi là biện pháp này chính là mấy cái bia gỗ trong rừng. Xem ra những người chết ở trong đó chính là mấy vị cán bộ khảo sát được gọi tên này. Chỉ là rốt cuộc những người này đang giở trò quỷ gì?

Không đợi tôi suy nghĩ, lão Phùng quả nhiên tiếp tục kể, rằng mấy ông cán bộ kia nói muốn vào rừng tìm "tố", yêu cầu cả làng, hễ ai còn đi được, đều phải cùng vào rừng. Bắt chúng tôi phải ba bước một lạy. Hồi đó trong làng có hai ông lão bảy mươi tuổi, lạy được hai bận là ngã quỵ luôn, chẳng còn hơi sức đâu nữa. Cũng may là mấy ông cán bộ kia không bắt chúng tôi đi sâu vào rừng mãi. Đến gần chỗ đó thì ông ta tự mình đi vào, chẳng ai biết làm gì bên trong, và rồi vị cán bộ này cũng không bao giờ quay ra nữa.

Vị cán bộ khảo sát đầu tiên cứ thế biến mất, sau đó thì mấy người khác cũng lần lượt không thấy tăm hơi.

Chúng tôi tò mò lắm, nên dân làng bàn nhau lén cử một người đi theo thật nhanh để xem thử. Lần đó không phải tôi đi, may mà không phải tôi đi đấy, nếu không thì làm sao tôi có thể kể lại những chuyện kinh hoàng này cho các anh nghe được!

Tôi nghe ý của lão Phùng, hiển nhiên là người đi theo đã không có kết cục tốt đẹp gì. Xem ra từ dạo đó, dân làng đã biến nơi ấy thành cấm địa. Tôi không biết cái kiểu 'đưa' cán bộ khảo sát vào rừng này kéo dài bao lâu, nhưng nhìn vẻ bây giờ thì e rằng khoảng thời gian ấy đã rất dài rồi.

Nhưng tôi không hiểu là, dù trong làng xảy ra chuyện, nhưng họ cũng đâu đến nỗi bó tay hoàn toàn, lực lượng thanh niên trai tráng vẫn còn lại không ít. Nếu phản kháng thì cũng chưa chắc không có phần thắng. Tôi tự hỏi, lẽ nào con người thời ấy thật sự quá đơn thuần? Hay là căn bản họ ngu muội đến vậy?

Tôi hỏi lão Phùng: "Các ông cứ để đám người này dắt mũi mãi sao? Các ông chưa từng nghĩ đến việc giải quyết vấn đề tận gốc rễ à? Mỗi khi một cán bộ khảo sát đến, các ông hoàn toàn có thể trói lại mà tra khảo thật kỹ chứ."

Lão Phùng lắc đầu: "Ông chủ Giang à, anh nghĩ chúng tôi sao có thể chưa từng nghĩ đến chuyện đó sao? Chẳng phải tôi vẫn chưa kể xong đó sao? Để tôi nói cho anh biết, mấy vị cán bộ khảo sát này... họ không phải là người!"

Đôi khi, câu chuyện tưởng chừng hoang đường lại ẩn chứa những sự thật kinh hoàng nhất.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free