(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 226: Đông Phi - Kẻ vô đạo đức
Viễn Đông là một thị trường khổng lồ, và Nhật Bản thời điểm đó cũng là một thị trường mới nổi. Nơi đây cũng là một trong những nguồn di dân và thị trường lương thực quan trọng của Vương quốc Đông Phi ở Viễn Đông.
Để thể hiện sự coi trọng Nhật Bản, ngay sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao với chính phủ nhà Thanh, Vương qu��c Đông Phi đã nhanh chóng ký kết thiết lập quan hệ với chính phủ Nhật.
Sebastian, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Hechingen tại Nhật Bản, kiêm luôn chức Công sứ Đông Phi tại Nhật. Đồng thời, Đông Phi còn thành lập hàng loạt lãnh sự quán trên khắp các địa phương Nhật Bản.
Sau Minh Trị Duy Tân, chính phủ Nhật bắt đầu phát triển công nghiệp quy mô lớn. Để phát triển công nghiệp, một lượng vốn khổng lồ là điều tất yếu. Phương thức huy động vốn của chính phủ Nhật chủ yếu chỉ có hai: vay từ các thương nhân lớn trong và ngoài nước, hoặc tận lực bóc lột dân chúng đến tận cùng.
Trong số đó, phụ nữ và nông dân Nhật là những đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Chính phủ Minh Trị khuyến khích phụ nữ tham gia các công việc như dệt may. Xếp thứ hai về số lượng phụ nữ Nhật Bản tham gia trong thời kỳ này là ngành “Dịch vụ đặc biệt”.
Trong bối cảnh đó, Đông Phi tất nhiên không bỏ qua cơ hội. Sau khi cử phái đoàn ngoại giao, họ càng ngang nhiên đưa phụ nữ Nhật Bản sang Đông Phi định cư.
Chính phủ Minh Trị ưu tiên đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ như tơ tằm, bông sợi, đồng thời thuê chuyên gia nước ngoài hướng dẫn sản xuất. Tuy nhiên, công nghiệp hiện đại cần một lượng lớn lao động, đặc biệt ngành dệt may lại càng cần nhiều phụ nữ. Khi tuyển dụng, họ gặp khó khăn ở nông thôn, bởi con gái nông dân không muốn rời làng quê. Thế là chính quyền tiến hành tuyên truyền trên phạm vi toàn quốc, khuyến khích phụ nữ vào nhà máy làm việc. Thậm chí, một số quan chức còn đưa con gái mình vào làm để làm gương. Khi tác dụng “làm gương” này phát huy, nhiều người mới bắt đầu coi nhà máy là nơi an toàn.
Điều này tạo thuận lợi cho Đông Phi trong việc đưa người sang. Cách làm rất đơn giản: đầu tư lập xưởng dệt tại Nhật Bản, chỉ tuyển nữ công nhân, sau đó dùng danh nghĩa “điều chuyển nội bộ” để sắp xếp họ sang “châu Âu” làm việc.
Tiếp theo là hàng loạt “mánh khóe” táo bạo: những con tàu chở người sang “châu Âu” thường xuyên “gặp” bão, hải tặc… rồi “bị nạn”. Mỗi lần như vậy, hàng trăm đến cả nghìn người “mất tích”.
Sau đó, chủ xưởng sẽ lên tiếng bày tỏ thương tiếc, chi ra một khoản tiền trợ cấp tượng trưng rồi giao cho chính quyền Nhật Bản xử lý. Còn việc số tiền này có đến tay gia đình nạn nhân hay không, Đông Phi hoàn toàn mặc kệ.
“Tai nạn trên biển” là bất khả kháng, nên chính phủ Nhật Bản cũng không thể truy cứu trách nhiệm. Trong bối cảnh địa vị quốc tế còn thấp kém, họ càng không dám gây chuyện. Đã nhận được tiền bồi thường, họ còn có thể đòi hỏi gì hơn?
Tuy nhiên, cách làm này cũng có nhược điểm: các “Công ty bình phong” do Đông Phi lập ra phải liên tục thay tên đổi chủ. Lần sau sẽ lại là một nhóm khác tiếp tục trò lừa đảo, với lý do có sẵn: chủ xưởng trước vì “tai nạn” mà thua lỗ phá sản, nợ nần chồng chất, nên đã bị mua lại.
Vậy ai sẽ đứng ra chịu tiếng xấu? Tuyệt đối không phải là Vương quốc Đông Phi. Tất cả đều được đổ lỗi cho “nhà đầu tư Đức” hoặc “nhà đầu tư châu Âu”: khi hỏi đến, thì nào là người Ba Lan, Ukraina, Nga, Ý, thậm chí còn lôi cả những quốc gia thời Đế quốc La Mã Thần Thánh nay đã biến mất.
Phương thức thứ hai là mua trực tiếp từ tay nông dân Nhật Bản – đúng vậy, là “mua người”. Thời điểm này, địa vị phụ nữ Nhật Bản cực kỳ thấp, hoàn toàn không có nhân quyền. Khi đói kém, nhiều gia đình buộc phải bán con gái, bởi con trai còn phải được giữ lại để nối dõi tông đường.
Với mức giá cao hơn một chút so với thị trường Nhật Bản, lại thanh toán bằng lương thực, Đông Phi dễ dàng mua được một số lượng lớn phụ nữ. Đây cũng được coi là “đôi bên cùng có lợi”: gia đình nhận lương thực để cầm cự qua ngày, còn con gái thì thoát khỏi cảnh phải rơi vào “ngành dịch vụ đặc biệt”.
Sau Minh Trị Duy Tân, chỉ đứng sau ngành dệt may, “Dịch vụ đặc biệt” đã trở thành ngành thu hút nữ giới lớn thứ hai. Chính phủ Nhật Bản coi phá thai và giết trẻ sơ sinh là tội hình sự. Vì thế, khi đói kém, nhiều gia đình nông thôn đành phải bán con gái vào ngành này.
So với thời Mạc phủ Tokugawa, quy mô và tốc độ tăng trưởng của “Dịch vụ đặc biệt” dưới thời Minh Trị thậm chí còn vượt xa hơn nhiều.
Chính phủ Đông Phi dùng lương thực để đổi lấy dân số thừa của Nhật Bản, vừa giúp gia đình họ sống qua ngày, vừa giúp các cô gái này có một “tương lai tươi sáng” hơn (ít nhất là so với số phận ban đầu của họ).
Dù cách làm này có phần vô đạo đức, nhưng để khiến chính phủ Nhật Bản phải làm ngơ, Đông Phi cũng có những phương pháp riêng.
Các xưởng dệt “bình phong” tuy thay đổi liên tục, nhưng vẫn duy trì một nhóm công nhân nữ cố định. Họ vừa kiếm được tiền gửi về nhà, vừa được trả lương cao hơn mức trung bình ngành ở Nhật Bản, và đặc biệt là không bao giờ bị nợ lương. Điều này cũng mang lại nguồn thu thuế ổn định cho chính phủ Minh Trị.
Còn những vụ “mất tích do tai nạn biển” thì chỉ có thể xem như điều đáng tiếc. Với sự “hợp tác” của nhóm công nhân cố định, sẽ luôn có những người “ngây thơ” khác gia nhập các xưởng dệt của Đông Phi.
Nhưng để trở thành “công nhân ổn định” cũng không hề dễ dàng: lương ngành dệt ở Nhật Bản cực kỳ thấp, mãi đến năm 1880 mới có mức lương tối thiểu, nhưng nhiều người vẫn không được trả đúng. Các xưởng của Đông Phi trả lương hậu hĩnh, nên nhóm công nhân này hầu hết đều có quan hệ với các quan chức Nhật Bản.
Điều này trùng khớp với chính sách của chính phủ Nhật Bản: quan chức đưa người nhà vào nhà máy để làm gương.
“Ngài Sebastian, thật làm phiền ngài quá! Cảm ơn ngài đã ra tay giúp đỡ!” Một nhóm quan chức Nhật Bản ở Tokyo cúi chào 90 độ theo đúng nghi thức.
“Haha, đây là bổn phận của một nhà ngoại giao.” Sebastian mỉm cười đáp lời.
Vừa rồi, “vị Công sứ chính trực” của Đông Phi đã giúp chính quyền Nhật Bản đòi được tiền bồi thường từ tay “Thương nhân Nga” hung hãn kia.
Phía chính phủ Nga: “Tôi không biết! Hắn là ai?” Những di dân Slav của Đông Phi được huấn luyện đóng giả thương nhân Nga cực kỳ thuyết phục: họ nói tiếng Nga lưu loát, hiểu biết chi tiết về Nga, tác phong không hề tầm thường — nhìn thế nào cũng giống “hàng thật”.
Tính cách thẳng thắn, cởi mở của họ càng làm tròn vai hơn. Khi “thương nhân Nga” mở xưởng, và công nhân Nhật Bản “gặp nạn” ở nước ngoài, ch��nh quyền Nhật Bản đương nhiên phải lên tiếng.
Sau khi nghe lý do “tai nạn bất khả kháng” xong, thương nhân Nga vẫn kiên quyết không nhượng bộ. Thậm chí, hắn còn định đuổi đám “dân đòi vạ” Nhật Bản ra ngoài.
Đúng lúc này, Công sứ Đông Phi Sebastian “tình cờ” đi ngang khi đang “mua” bữa sáng. Với chính nghĩa bừng bừng, ông lập tức mắng thẳng mặt tên thương nhân Nga kia.
Cuối cùng, dưới sự “hòa giải” của Sebastian, đôi bên bắt tay, và “thương nhân Nga” đã bồi thường một khoản tiền. Mọi chuyện chấm dứt tại đó.
“Sebastian-san là một người tốt! Quả là một quý ông thực thụ.” “Ước gì tất cả những người ngoại quốc ở Tokyo đều hiểu lý lẽ như Sebastian-san.” “Sebastian-san dám đối mặt với người Nga, thậm chí còn mắng thẳng vào mặt họ. Dân tộc Đại Hòa chúng ta sau này cũng phải ngẩng cao đầu như thế…” “Thiên Hoàng vạn tuế! Chúng ta nhất định sẽ...”
Văn bản này được chuyển ngữ bởi truyen.free, trân trọng cảm ơn sự tin tưởng của bạn.