(Đã dịch) Phục Hưng - Chương 33: . Chiến tranh tới gần.
Thu hoạch liên tục đến hạ tuần tháng 3 mới hoàn tất. Cánh đồng vàng ươm ngày nào giờ chỉ còn trơ những gốc rạ nham nhở, thi thoảng vẫn có đàn vịt trời từ đâu đến mót nốt những hạt thóc cuối cùng còn sót lại. Gặt lúa xong, công việc của nông dân vẫn chưa hết. Họ còn phải đập, tách hạt ra rồi mang đi phơi. Không như thời hiện đại có các loại máy gặt đập liên hợp, thời này, nông dân hoàn toàn làm thủ công.
Những năm đầu thế kỷ 21, đất nước mới mở cửa còn nhiều khó khăn, nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng chỉ có máy tuốt lúa đơn giản, một số nơi còn sử dụng máy tuốt lúa chạy bằng sức người, vô cùng vất vả. Huống chi thời phong kiến, đến máy tuốt lúa chạy bằng sức người cũng không có.
Lại nói tiếp, Việt Nam mang tiếng cải cách mở cửa từ năm 1986 nhưng thực sự phải đến những năm 90 của thế kỷ 20, đặc biệt sau năm 1995, ta mới thực sự mở cửa hội nhập. Trước đó, vừa kết thúc chiến tranh giải phóng miền Nam năm 1975, ta lại phải tiến hành chiến tranh Biên giới Tây Nam chống quân Pôn Pốt xâm lược, rồi cử quân tình nguyện sang giúp nước bạn giải phóng. Chính vì lẽ đó, Việt Nam bị gán cho cái mác “tiểu bá” ở Đông Nam Á. Thực lòng mà nói, vừa trải qua chiến tranh, dù không hề e ngại ai, nhưng ta cũng cần thời gian hồi sức trước khi tiếp tục đối đầu, huống hồ Campuchia lúc bấy giờ cũng không giàu có gì, một nước nghèo đói xơ xác, lại thêm Pôn Pốt thảm sát, dân chúng sót lại chẳng còn bao nhiêu. Thế nhưng, với sự hậu thuẫn, Pôn Pốt càng thêm hung hăng tấn công nước ta. Vì vậy, ta đành phải mang quân tiêu diệt Pôn Pốt, dù thật tâm ta không hề muốn, bởi Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình.
Rồi sau đó lại đến chiến tranh biên giới phía Bắc, hơn 60 vạn quân Trung Quốc đồng loạt tiến công toàn tuyến biên giới. Lúc ấy, quân chủ lực của ta đang ở Campuchia hết rồi, biên giới chỉ còn lực lượng quân địa phương và công an vũ trang. Tình thế vô cùng nguy hiểm, nhưng quân dân ta đã anh dũng chặn đứng bước tiến của địch, không cho chúng thực hiện được âm mưu tiến sâu, đánh chiếm Hà Nội. Sau đó, ta thực hiện tổng động viên, chuyển quân bằng đường không từ Campuchia về. Quân Trung Quốc lập tức rút lui, nhưng chúng không quên phá hoại cơ sở vật chất và khủng bố dân chúng vùng biên. Nhưng chuyện đâu có xong, liên tục từ 1979 đến đầu những năm 90, biên giới phía Bắc không lúc nào yên bình, liên tục có những xung đột vừa và nhỏ giữa ta và Trung Quốc, chỉ là không bùng phát thành chiến tranh tổng lực như năm 1979.
Cùng lúc chiến đấu ở hai chiến tuyến, phía Tây và phía Bắc, quân thường trực luôn duy trì trên một triệu người. Đây là một gánh nặng kinh tế vô cùng to lớn đối với nước ta, khi vừa kết thúc chiến tranh chống Mỹ. Có ý kiến cho rằng, Trung Quốc liên tục gây xung đột ở biên giới sau năm 1979 hòng uy hiếp, khiến nước ta luôn phải duy trì một lực lư���ng quân đội đông đảo, từ đó làm suy kiệt nền kinh tế Việt Nam. Nhân tiện, Trung Quốc có thể rèn luyện quân đội của mình và hướng dư luận trong nước sang chiến tranh, xoa dịu những mâu thuẫn nội tại trong quá trình cải cách mở cửa...
Bởi vậy, đất nước ta thực sự được yên bình để phát triển kinh tế chỉ từ những năm 90 của thế kỷ 20, lại còn đối mặt với hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại. Vậy nên, những năm đầu thế kỷ đó, cuộc sống nhân dân còn nhiều khó khăn, những kẻ phản động trong nước rục rịch phá hoại chính quyền nhưng nhanh chóng bị trấn áp, tiêu diệt. Với gần ba mươi năm hòa bình để phát triển kinh tế, những thành tựu đất nước ta đạt được như hiện nay đã là vô cùng đáng quý. Muốn sánh kịp phương Tây hay Trung Quốc, chúng ta còn cần rất nhiều nỗ lực từ thế hệ trẻ.
Cha ông hy sinh bao xương máu để đổi lấy nền hòa bình mà giờ đây, hở một chút là lại chỉ trích chính quyền, so sánh này nọ rồi chê bai đất nước. Thử vắt tay lên trán mà nghĩ xem, chỉ biết văng tục chửi đổng như vậy, liệu bao giờ Việt Nam mới có thể sánh vai cùng các cường quốc năm châu? Dù biết đất nước còn nhiều hạn chế nhưng việc gì cũng cần có thời gian. Phương Tây, Trung Quốc đã có hàng chục, hàng trăm năm hòa bình để phát triển kinh tế, chưa kể họ đã có nền tảng công nghiệp, khoa học, giáo dục vững chắc từ khi chúng ta vẫn còn là thuộc địa. Đừng so sánh khập khiễng, rồi buông lời cay đắng. Hãy tự thay đổi, tự nỗ lực vươn lên. Một người có thể chưa thay đổi được thế giới, nhưng nếu bạn thay đổi, những người xung quanh bạn thay đổi, rồi hàng trăm, hàng triệu người thay đổi để sống tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn, thì khi ấy đất nước sẽ tốt đẹp hơn, và thế giới cũng sẽ tốt đẹp hơn.
Bác nói đất nước ta “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu” – đúng, rất đúng. Nhưng ta đã đổ hết vào chiến tranh, đổ hết vào kiến thiết sau chiến tranh rồi. Giờ còn mỗi con người thôi, thế nên hãy cố gắng đừng phụ lòng cha ông đi trước, e rằng đến lúc gặp mặt các bậc tiền nhân, chúng ta sẽ không còn mặt mũi nào mà ngẩng lên.
Thôi không lan man nữa. Đại Hải vốn là người con vùng quê Bắc Bộ, sinh ra và lớn lên lúc đất nước còn nhiều khó khăn. Chính vì vậy, hắn cũng biết đến máy tuốt lúa chạy bằng sức người (dùng bàn đạp). Thứ máy này không phức tạp, dễ chế tạo, hiệu suất lại cao, nên nhanh chóng được thợ thủ công chế tạo và phổ biến khắp Thuận Hóa, giúp ích rất nhiều cho nông dân.
Điều đáng tiếc là, hắn biết đến máy xát gạo nhưng chưa từng thấy loại nào dùng sức người hay súc vật, nên không thể chế tạo được. Đành để nông dân tiếp tục giã gạo theo cách truyền thống. Trong tương lai, hắn sẽ cổ vũ cho việc sáng tạo ra loại máy đó, nhưng hiện tại thì đành bất lực.
Lúc này, Phú béo cũng vừa trở về sau chuyến buôn. Hắn đã bán hết số da lông, sừng thú tích trữ, mua thêm được một chiến thuyền cùng hai chiếc thuyền chở của nhà Minh, cùng với gần chục lượng bạc, phần nào xoa dịu “cơn khát tiền” của Đại Hải.
Thuyền nhà Minh không phù hợp cho việc đi biển xa, vậy tại sao Đại Hải vẫn mua? Vì hắn chưa có điều kiện đóng thuyền, chưa có thợ lành nghề, gỗ đóng thuyền cũng thiếu. Gỗ chặt được ở Tân Đảo tuy có, nhưng đều là gỗ tươi. Nếu dùng để đóng thuyền thì tuổi thọ chỉ được một hai năm, không đáng. Hắn cũng không có việc gì gấp gáp hay cần đến hải chiến, nên tạm mua thuyền nhà Minh vậy. Dù sao, thuyền nhà Minh đều khá lớn, phù hợp cho mục đích chuyên chở của hắn lúc này. Chỉ vậy mà thôi. Còn việc đóng các loại thuyền buồm chiến kiểu phương Tây, vốn thuận tiện hơn cho việc đi biển, thì để sau này tính toán.
Quay lại đại sảnh, Phú béo đang báo cáo cho Đại Hải về thu hoạch của chuyến này. Chuyến này Phú béo đi gần nên về nhanh, chỉ một tháng đã xong.
“Quang Phú, lần này ngươi không cần ra biển nữa. Cứ ở nhà nghỉ ngơi dăm bữa nửa tháng, lo liệu việc buôn bán trong Đại Việt là được. Mà chuyện ta nói ngươi cho người đi làm chưa?” Đại Hải hỏi.
“Rồi, đại nhân. Thương hội Lạc Hồng giờ là điểm đến ưa chuộng của người Thượng, người Mông và các dân tộc khác trong vùng. Họ trực tiếp mang da lông, sừng thú, gỗ quý đến đổi muối, gạo, vải vóc từ chỗ chúng ta. H��� rất xởi lởi, hào phóng, không hề mặc cả nhiều.” Phú béo đáp.
“Hừm, cũng bởi chúng ta ra tay hào phóng thôi, chứ thương nhân Chiêm, Việt làm sao mua được muối rẻ đến thế để cạnh tranh nổi.”
“Đại nhân nói phải, muối của chúng ta vừa trắng, vừa rẻ, rất được ưa chuộng. Nhưng sao đại nhân không chuyển lên mạn sông Hồng bán, sẽ được giá hơn, lại bớt vất vả? Đồ da lông của người miền núi tuy tốt, nhưng sao sánh được với vàng bạc?” Phú thắc mắc.
“Khu vực Thăng Long nhìn có vẻ béo bở đấy, nhưng miếng bánh ngọt đã bị chia cắt hết rồi. Chưa kể hoàng thân quốc thích, công hầu quý tộc, các thương hội lớn ở đó đều có đại quan chống lưng. Một kẻ lạ như ta mà nhảy vào đòi chia phần, e rằng chưa được miếng nào đã bị phanh thây rồi.” Đại Hải cười mỉa nói. Bọn quan lại quý tộc gần đây rất ưa chuộng Nho giáo, mở miệng là sách thánh hiền, bên ngoài thì ra vẻ ghét bỏ thương buôn vì “cả người toàn mùi tiền, tục khí”. Thế nhưng, các thương hội lớn lại đều có bóng dáng bọn chúng chen chân vào...
“Ngươi cứ chịu khó bán muối cho người miền núi và đi buôn lậu là ổn rồi. Tuy có rủi ro nhưng lợi nhuận rất cao.”
“Vâng, phải rồi, cả bên Trung Quốc và Chiêm Thành cũng rất cần muối. Thuộc hạ có nên nhúng tay vào không, đại nhân?” Phú béo hỏi.
“Nếu ngươi tìm được trung gian thì làm, còn lại thì không cần trực tiếp buôn bán, kẻo dễ bị quan phủ các nước dòm ngó. Tốt nhất kiếm mấy tên như Vương Luân, tham tiền, có chỗ dựa, thế dễ làm việc hơn.”
“Cái này thì dễ. Trước khi còn làm việc cho Thủy Quỷ, thuộc hạ cũng đã quen biết với vài tay thương buôn chuyên buôn lậu ở Trung Quốc, Chiêm Thành, Chà Và... thậm chí cả trong Đại Việt.” Phú béo hớn hở.
“Đại Việt thì đừng nhúng tay vào kẻo lộ tung tích. Trước mắt cứ thoải mái buôn bán với thương nhân Trung Quốc, Chiêm Thành... là được. Cứ mạnh dạn mà làm, muối của ta không thiếu. Nếu ngươi bắt mối được với bên thảo nguyên hay Đông Doanh thì tốt.” Đại Hải nói.
“Việc này hơi khó. Thảo nguyên ở mãi ải quan ngoại, bọn Vương Luân không làm ăn gì cùng. Nếu cần, thuộc hạ phải tự mình lân la lên tận phía Bắc, may ra mới tìm được mối. Đông Doanh thì càng khó, bọn chúng là Oa khấu, thích cướp bóc hơn là buôn bán. Nếu không cẩn thận khi bắt mối, e rằng còn mất mạng.” Phú béo nhăn nhó nói.
“Không vội, ngươi cứ từ từ mà làm. Còn về phần Đại Việt, chủ yếu vẫn cứ làm quen đi, mời mọc họ tham gia thương hội. Có thể nhả một chút buôn bán da lông cho họ tham gia, muối buôn với Ai Lao và Chiêm cũng có thể nhả một bộ phận. Cốt yếu là phải giữ quyền chủ động, như hình thức liên doanh ta đã từng nói. Quan trọng nhất, chính người của Lạc Hồng đi buôn được khắp cả nước, chủ yếu là khu vực Thăng Long.”
“Vâng. Còn về lương thực, thuộc hạ cũng cho người đi cùng quan thu thuế đi thu mua rồi. Toàn bộ lương thực dư thừa đều được thu mua hết. Các thương nhân từ nơi khác cơ bản không thèm ngó ngàng đến Thuận Hóa, họ khinh nơi đây đất nhỏ, dân nghèo không có lương thực.”
“Vậy là tốt nhất rồi, Phú béo.” Đại Hải cười trêu.
“Cố gắng phát triển mạnh Lạc Hồng, ta chắc chắn không bạc đãi ngươi. Chuyến sau cho người dò hỏi việc mua nô lệ ở các nước, cả nạn dân nữa. Lần này ta có việc cần đến.”
“Vâng.”
Đúng lúc này, một tên lính hầu từ ngoài chạy vào.
“Tướng quân, có tin từ Thăng Long đến.”
Đại Hải nhận tin, nét mặt trầm ngâm. Lịch sử vẫn vậy, những gì cần đến vẫn sẽ đến.
“Được rồi, ngươi lui xuống trước đi, gọi Nguyễn Trí đến gặp ta. Quang Phú, ngươi cũng lui xuống làm việc của mình đi.” Đại Hải khoát tay đuổi người.
Mọi bản quyền nội dung thuộc về truyen.free, xin đừng quên nguồn nhé bạn.