(Đã dịch) Ta Thấy Được Tất Cả - Chương 333: Nước lạnh
Sau khi công ty liên doanh giữa Hải Lục Phong và Hải Cảnh được thành lập, họ nhanh chóng tìm các doanh nghiệp liên quan để kéo một đường cáp điện.
Lúc này, Giang Miểu đang có mặt tại căn cứ nuôi dưỡng Lục Phong.
Căn cứ nuôi dưỡng này chính là nơi mà doanh nghiệp nuôi cá hồi Na Uy đã định đầu tư trước đây, rộng khoảng 5.460 mẫu. Trong đó, diện tích nuôi trồng là 4.500 mẫu, còn lại 946 mẫu dành cho các công trình phụ trợ.
Sau khi Hải Lục Phong tiếp quản dự án này, họ đã lần lượt đầu tư gần 1,5 tỷ nhân dân tệ và dự kiến sẽ tiếp tục rót thêm khoảng 2 tỷ nhân dân tệ nữa.
Hiện tại, đã có 2.000 mẫu trại nuôi trồng trong nhà cùng các công trình phụ trợ liên quan hoàn thành việc xây dựng.
Mặc dù là trại nuôi trồng trên đất liền, nhưng căn cứ này thực tế chỉ cách bờ biển hơn hai trăm mét, nối liền với đường ven biển. Trên bờ biển, một trạm bơm nước cỡ lớn đã được xây dựng, chuyên dùng để bơm nước biển cấp cho các bể nuôi.
Trước đó, Giang Miểu còn yêu cầu ban thủy sản mua lại thêm một ngọn đồi nhỏ nằm cạnh căn cứ nuôi dưỡng này. Sau đó, họ đã tận dụng hang động tự nhiên trong núi để xây dựng một hầm trữ đông ngầm.
Hiện tại, ngọn núi nhỏ này có diện tích khoảng 470 mẫu. Khi Giang Miểu đến khảo sát, anh đã lập tức nhắm trúng ngọn núi này, bởi vì nó không chỉ có một hang động ngầm có thể cải tạo, mà còn có cấu trúc tầng đá tương đối ổn định, không dễ xảy ra các thảm họa địa chất như sạt lở.
“Thưa sếp, hang động này đã được chúng tôi mở rộng, đào sâu và gia cố. Hiện tại bên trong được chia thành 6 khoang,” Tổng giám đốc Lý Hướng Triết của căn cứ nuôi dưỡng giới thiệu về tình hình vận hành kho đông lạnh dưới Hắc Thạch Sơn cho Giang Miểu.
Nhìn vào sơ đồ cấu trúc, sáu khoang này được bố trí thành hai hàng và thông với nhau.
Bên trong bố trí các thiết bị làm lạnh và hệ thống tuần hoàn nước lạnh, bao gồm bốn khoang làm lạnh thông thường và hai khoang cấp đông.
Hệ thống đường ống tuần hoàn nước lạnh được chôn ngầm dưới đất, kết nối với hàng ngàn mẫu trại nuôi trồng trong nhà.
Họ sử dụng các tấm pin năng lượng mặt trời để không ngừng làm lạnh nước cho kho đông lạnh vào ban ngày, thậm chí trực tiếp sản xuất đá. Nhờ lớp đá dày của ngọn núi, nơi đây có thể duy trì nhiệt độ ổn định, tạo ra hiệu quả giữ nhiệt tương tự như hầm băng tự nhiên.
Kho đông lạnh khổng lồ này có thể đồng thời đảm bảo gần 30 triệu mét khối nước trong các bể nuôi duy trì ở nhiệt độ từ 10 đến 16 độ C.
Đương nhiên, lượng nước này không phải toàn bộ dùng để nuôi cá hồi.
Khoảng 10 triệu mét khối nước, tương đương với 1.500 mẫu trại nuôi, được dùng để nuôi cá hồi. 3.000 mẫu trại nuôi còn lại thì được sử dụng để nuôi các loài thủy sản khác.
Sau khi xem xét kho đông lạnh, Giang Miểu tiếp tục tham quan các trại nuôi cá hồi. Hiện tại, Hải Lục Phong đang có ba trại nuôi cá hồi trực thuộc.
Trong đó, trại nuôi Kê Lung Sơn cạnh trụ sở chính có quy mô 500 mẫu; trại nuôi bán đảo Già Lãng là 2.000 mẫu; và trại nuôi vịnh Kiệt Thạch, Lục Phong là 1.500 mẫu, tổng cộng đạt 4.000 mẫu.
Các trại nuôi này có tổng dung lượng nước nuôi trồng là 26,64 triệu mét khối, có thể nuôi dưỡng hơn một trăm triệu con cá hồi.
Tuy nhiên, lúc này Giang Miểu không quá tập trung vào việc nuôi cá hồi. Anh chỉ xem lướt qua trong nửa giờ rồi đi thẳng đến khu vực nuôi trồng các loại thủy sản mới được bổ sung.
Trong 500 mẫu trại nuôi trồng trong nhà này, hiện đang nuôi dưỡng 5 loại hải sản.
Trong những ao nuôi sâu 10 mét, dưới đáy là l��p bùn nhân tạo dày hơn một mét. Lý Hướng Triết yêu cầu công nhân vớt thử một ít bùn đáy ao.
Rất nhanh, có thứ gì đó được vớt lên cùng với lớp bùn.
Giang Miểu ngồi xổm xuống, từ trong túi lưới, anh thấy vài con ốc xoắn. Đây chính là ốc hương, loài ốc nổi tiếng ở khu vực Triều Sán.
Lúc này, những con ốc hương con còn rất nhỏ, chỉ to bằng đầu ngón tay. Để đạt đến trọng lượng 1 đến 2 kg khi xuất bán, chúng cần khoảng 18 tháng nữa. Đây đã là kết quả của việc Giang Miểu tự mình áp dụng phương án nuôi dưỡng khoa học nhất, giúp những con ốc hương này đạt 1-2 kg trong vòng 18 tháng.
Giang Miểu thả mấy con ốc hương trở lại ao nuôi, vừa rửa tay bên cạnh ao, vừa hỏi: “Tình hình nuôi hỗn hợp thế nào?”
“Hiện tại khá tốt, các dự án thử nghiệm nuôi chung ốc chuông – tôm hùm bông và ốc hương – tôm tít đều không xảy ra bất thường. Điều này có thể liên quan đến việc chúng đều sinh sống ở vùng biển Nam Hải.”
Kiểu nuôi hỗn hợp này chủ yếu nhằm tận dụng tối đa thể tích nước. Các loài ốc/vỏ cứng thường sống ở tầng bùn cát đáy biển, trong khi tôm tít và tôm hùm bông lại sinh sống ở tầng nước gần đáy biển.
Đương nhiên, để tránh tôm tít và tôm hùm bông săn mồi ốc hương và ốc chuông, Hải Lục Phong đã trực tiếp trải một tầng lưới thép không gỉ phía trên lớp bùn cát của ao nuôi, cách khoảng nửa mét.
Vì là lưới thép, đương nhiên sẽ có những hạn chế về mắt lưới.
Bởi vậy, các loài như tôm tít, tôm hùm, ốc chuông và ốc hương đều phải đạt đến kích thước ít nhất bằng đầu ngón tay cái mới có thể tiến hành nuôi chung.
“Chúng ta đến xem các trại nuôi cua Đế vương và tôm hồng Bắc Cực.”
“Vâng ạ.”
Đoàn người đi vào các dãy trại nuôi gần nhất với kho đông lạnh ngầm.
Nhiệt độ nước trong các trại nuôi này đều được kiểm soát ở mức 2 đến 5 độ C, đây cũng là nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của tôm hồng Bắc Cực và cua Đế vương.
Các nhân viên làm việc tại những trại nuôi này đều mặc áo khoác lông dày cộm. Lý Hướng Triết cũng đã mang đến cho Giang Miểu và mọi người vài bộ áo khoác lông giữ ấm đặc chế, tất c��� đều là kiểu liền thân.
Vừa tiến vào trại nuôi, dù lúc này bên ngoài đang là mùa đông, nhiệt độ bên trong vẫn lạnh buốt.
Thở ra một làn khói trắng, Giang Miểu nhìn về phía những con tôm hồng Bắc Cực ở đáy ao. Vì tôm hồng Bắc Cực cần sinh tồn ở vùng biển nước sâu, nên ao nuôi sâu 20 mét này có 12 mét hoàn toàn nằm dưới lòng đất, 8 mét còn lại được tạo thành bằng cách xây cao thành ao.
Bởi vậy, nhân viên công tác cần phải thông qua camera dưới nước mới có thể quan sát được chúng.
Thực ra, chiều sâu này không hoàn toàn phù hợp với yêu cầu môi trường sống tự nhiên của tôm hồng Bắc Cực.
Trong môi trường tự nhiên, tôm hồng Bắc Cực sinh sống ở độ sâu từ 100 đến 600 mét.
Nhưng Giang Miểu hiểu rằng sinh vật không phải là bất biến. Sở dĩ tôm hồng Bắc Cực sống ở độ sâu 100-600 mét là do thói quen hình thành từ xưa đến nay, nhưng thói quen này hoàn toàn có thể thay đổi.
Chỉ cần ánh sáng và nhiệt độ nước phù hợp, áp suất nước ở độ sâu 100 mét cũng không phải là không thể thích nghi.
Đặc biệt, tôm hồng Bắc Cực vốn đã sinh sống trong dải độ sâu từ 100 đến 600 mét, với sự chênh lệch áp suất nước gần 5-6 lần. Điều này bản thân đã cho thấy cơ chế cơ thể của tôm hồng Bắc Cực vốn đã có khả năng điều tiết áp suất nước.
Giang Miểu đã điều chỉnh nồng độ muối vô cơ trong dung dịch cùng với việc bổ sung các chất dinh dưỡng khác, đảm bảo tôm con Bắc Cực có thể sinh sống ở độ sâu 15-20 mét.
“Ao này đã nuôi bao lâu rồi?”
“Thưa sếp, đây là lứa tôm con Bắc Cực đầu tiên được thả, hiện tại mới được 12 ngày,” tổ trưởng tổ nuôi trồng rụt rè trả lời.
“Không tệ,” Giang Miểu liếc mắt đã nhận ra những con tôm hồng Bắc Cực này được chăm sóc rất tốt.
So với môi trường tự nhiên, nơi chúng cần ít nhất hai đến ba năm để đạt kích thước xuất bán, thì trong các trại nuôi nhân tạo ở đây, tôm hồng Bắc Cực chỉ cần khoảng nửa năm là có thể đạt tiêu chuẩn xuất bán với trọng lượng 14-18 gram.
Giang Miểu nhìn sang hình ảnh từ một camera dưới nước khác.
Trong hình ảnh là một đàn cua Đế vương con lớn. Chúng đang sinh sống trên các tấm lưới thép không gỉ, tức là ở tầng nước từ 10 mét trở lên.
Lúc này, chúng vẫn còn rất nhỏ, chỉ lớn hơn đầu ngón tay một chút.
Trong môi trường tự nhiên, cua Đế vương cần 8 đến 12 năm mới có thể đạt trọng lượng 3-4 kg để xuất bán.
Nhưng nuôi nhân tạo thì khác. Trong trại nuôi này, chúng được cung cấp nhiệt độ nư��c, ánh sáng và độ mặn nước biển tối ưu, không cần di chuyển nhiều, cùng với việc được cho ăn thức ăn phù hợp nhất. Chỉ cần khoảng 18 tháng, chúng có thể đạt trọng lượng 2-2,5 kg, và khoảng 28 tháng sẽ đạt 3-3,3 kg.
Trong giai đoạn này, tức là vào tháng thứ 12, chúng sẽ bắt đầu lột xác lần đầu. Đến tháng thứ 24, chúng bắt đầu lột xác lần thứ hai, và đây cũng là dấu hiệu cua Đế vương bước vào giai đoạn trưởng thành sinh dục. Nếu lúc này tiếp tục nuôi dưỡng thêm 4 tháng, đồng thời điều chỉnh thức ăn và nhiệt độ nước để ngăn chặn quá trình sinh sản của chúng, trọng lượng của cua Đế vương sẽ tăng vọt, nhanh chóng đạt tiêu chuẩn xuất bán.
Nếu không ngăn chặn quá trình sinh sản của cua Đế vương, thì chỉ cần nuôi dưỡng thêm 8 tháng theo quy trình bình thường, chúng sẽ bắt đầu đẻ trứng.
Thực ra, việc nuôi dưỡng những con cua Đế vương này chẳng qua cũng chỉ là tiện thể mà thôi.
Những ao nuôi nhiệt độ cực thấp này được thiết kế để nuôi tôm hồng Bắc Cực, nhưng tôm hồng Bắc Cực không thể thích nghi với tầng nước quá cạn (dưới 15 mét). Vì vậy, để tránh lãng phí phần không gian còn lại ở phía trên, người ta đã tận dụng để nuôi cua Đế vương.
Dù sao, so với tôm hồng Bắc Cực có thể thu hoạch sau nửa năm, chu kỳ sinh trưởng của cua Đế vương vẫn tương đối chậm chạp, cần tới 28 tháng mới đạt tiêu chuẩn xuất bán.
Theo tình hình nuôi dưỡng hiện tại, mỗi mẫu ao nước nhiệt độ siêu thấp có thể cho năng suất khoảng 3.000 kg tôm hồng Bắc Cực mỗi vụ, đạt 6.000 kg mỗi năm.
Hiện tại, giá nhập khẩu tôm hồng Bắc Cực tại cảng là 30-50 nhân dân tệ/kg. Nếu tính theo mức giá thấp nhất là 30 nhân dân tệ/kg, giá trị sản lượng hàng năm trên một mẫu ao đạt 180.000 nhân dân tệ.
Cua Đế vương mặc dù có giá trị cao, nhưng chu kỳ sinh trưởng của chúng quá dài, chi phí thức ăn cũng không hề thấp, và mật độ nuôi cũng không thể bằng tôm hồng Bắc Cực.
Dù sao, cua Đế vương có tập tính tự ăn thịt đồng loại. Nếu mật độ nuôi quá cao, chúng rất dễ tự ăn thịt lẫn nhau, dẫn đến sụt giảm sản lượng trên diện rộng.
Để tránh cua Đế vương tự ��n thịt lẫn nhau, người ta chỉ có thể áp dụng phương pháp nuôi hai tầng lưới thép không gỉ, chia thành hai tầng trên dưới. Điều này mới có thể miễn cưỡng tăng gấp đôi mật độ nuôi. Hơn nữa, cứ mỗi nửa năm, cần phải thay đổi ao nuôi cho chúng và điều chỉnh mật độ nuôi trong nước.
Mật độ nuôi cua Đế vương phải đảm bảo mỗi con có 3 mét vuông không gian hoạt động. Một mẫu ao nuôi một tầng chỉ có thể nuôi tối đa 222 con cua Đế vương; nếu hai tầng thì tối đa là 444 con.
Khi thu hoạch, mỗi con cua Đế vương có trọng lượng hơn 3 kg, năng suất mỗi mẫu đạt khoảng 1.332 kg.
Ngay cả khi giá cua Đế vương mấy năm nay ổn định, duy trì ở mức 400 nhân dân tệ/kg, thì giá trị sản lượng mỗi mẫu cũng chỉ đạt khoảng 530.000 nhân dân tệ. Tính trung bình hàng năm, giá trị sản lượng mỗi mẫu là 220.000 nhân dân tệ, chỉ cao hơn tôm hồng Bắc Cực vài chục nghìn nhân dân tệ.
Tuy nhiên, với mức giá 400 nhân dân tệ/kg, cua Đế vương rõ ràng là quá cao. Mức giá này có được là do ảnh hưởng của thời tiết cực đoan những năm gần đây, khiến sản lượng cua Đế vương sụt giảm trên diện rộng.
Đương nhiên, đối với công ty Hải Lục Phong, đây lại là việc tận dụng triệt để nguồn lực.
Việc nuôi cua Đế vương cùng tôm hồng Bắc Cực cũng là để gia tăng hiệu quả kinh tế tổng hợp cho ao nuôi.
Cho dù giá cua Đế vương giảm xuống còn 100 nhân dân tệ/kg, công ty Hải Lục Phong vẫn có thể có lợi nhuận.
Với việc xây dựng một diện tích trại nuôi nước lạnh tiêu chuẩn cao lớn như vậy, Giang Miểu đương nhiên muốn chọn những sản phẩm thủy sản có giá trị cao để nuôi dưỡng, bởi vì những loại tôm cá thông thường khó lòng bù đắp chi phí.
Mọi nội dung trong văn bản này đều thuộc bản quyền của truyen.free, nguồn thông tin không ngừng được kiến tạo.