(Đã dịch) Ta Thấy Được Tất Cả - Chương 373: Kiến thức (1)
Bước ra từ nhà máy len Vạn Thịnh trên đường Phi Thăng, Giang Miểu và Thư Nhã thấy đối diện là trạm trung chuyển xe buýt của công ty, đồng thời cũng là trụ sở mới của công ty xe buýt.
Sau vài tháng cải tạo, trạm trung chuyển này đã được lắp đặt phủ kín các tấm pin năng lượng mặt trời.
Giang Miểu và Thư Nhã đi bộ từ phía bên kia đường sang.
Nhận được thông báo, giám đốc công ty xe buýt Vương Hàn Bác đã đứng đợi ở cổng để đón hai người.
"Chủ tịch, Lâm tổng, hoan nghênh quý vị đến chỉ đạo."
"Tình hình kinh doanh của công ty xe buýt trong tháng Năm thế nào rồi?" Giang Miểu hỏi.
Một đoàn người bước vào bên trong trạm trung chuyển.
"Chủ tịch, hiện tại công ty xe buýt kinh doanh rất tốt. Trong tháng Năm, tổng lượt khách chúng ta đón đã đạt 13,71 triệu lượt người, doanh thu vận chuyển hành khách đạt 42,57 triệu nhân dân tệ. Doanh số bán các sản phẩm tổng cộng đạt 35,11 triệu nhân dân tệ. Doanh thu dịch vụ sạc điện tổng cộng đạt 850.000 nhân dân tệ."
Nghe Vương Hàn Bác trả lời, Giang Miểu cũng không mấy ngạc nhiên.
Dù sao thì tháng Năm vừa qua, du lịch Sán Mỹ đang rất hot, riêng lượng du khách tiếp đón đã tổng cộng gần 17 triệu người. Trừ đi phần tính lặp lại, ước tính tổng cộng có khoảng 7 đến 8 triệu lượt người đã đến Sán Mỹ trong cả tháng Năm.
Trong số những du khách này, không ít người sẽ đi xe buýt du lịch chuyên dụng, cộng thêm lượng người bản địa Sán Mỹ sử dụng, mới tạo nên con số lượt đi lại khổng lồ như vậy.
"Hiện tại đã đủ tài xế chưa?" Giang Miểu hỏi.
"Tạm thời thì đủ ạ, điều này còn phải cảm ơn sự hỗ trợ của tổng công ty." Vương Hàn Bác vừa cười vừa đáp.
Trước đó, để nhanh chóng khởi động lại gần sáu trăm chiếc xe buýt, công ty chỉ tuyển được hơn một trăm tài xế. Để không ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch, Vương Hàn Bác đã đề nghị Bộ phận Hậu cần điều động hơn một trăm tài xế đang trong giai đoạn huấn luyện nhập môn đến hỗ trợ.
"Hiện tại công ty xe buýt có bao nhiêu nhân viên?" Giang Miểu hỏi tiếp.
"Hiện có khoảng 1273 nhân viên, trong đó 925 tài xế, 51 nhân viên bảo trì và kỹ thuật, 157 nhân viên hậu cần, số còn lại là nhân viên quản lý."
Giang Miểu ngẩng đầu nhìn mái bãi đỗ xe: "Tổng diện tích các tấm pin năng lượng mặt trời trên trạm trung chuyển này là bao nhiêu mét vuông?"
"Khoảng 50.000 mét vuông. Hiện tại là mùa hè, ban ngày có thời gian chiếu sáng tương đối dài, chỉ cần không gặp phải thời tiết nhiều mây, mỗi ngày có thể phát điện khoảng 80.000 kWh."
"Trung tâm tích điện có đủ không?"
"Đủ ạ."
Dạo một vòng quanh công ty xe buýt, vợ chồng Giang Miểu lái xe đi đến Sa Khanh thôn thuộc trấn Tiệp Thắng, phía đông thành phố, một cách lặng lẽ.
Nơi đây cũng là một trong những địa điểm đầu tiên được đưa vào chương trình du lịch hỗ trợ nông thôn.
Trước đó Giang Miểu từng đến đây một lần rồi.
Nội dung du lịch của Sa Khanh thôn không giống với các mô hình du lịch nông nghiệp ở những vùng quê khác, mà là theo mô hình bảo tàng.
"Đây là di chỉ cổ của loài người mà công ty chúng ta vô tình phát hiện ra trong quá trình khai thác vườn sầu riêng trước đây." Giang Miểu giới thiệu với Thư Nhã.
Nhờ có năng lực giám định, Giang Miểu cũng đã đạt được hiệu quả to lớn trong lĩnh vực khảo cổ.
Di chỉ Sa Khanh, ngoài phần đã được phát hiện trước đây, còn có một phần ẩn sâu dưới lòng đất. Khi anh đến đây lần trước, anh đã biết khu vực phân bố cốt lõi của các di chỉ này, cùng với những gì chúng chứa đựng.
Do đó, anh đã lấy cớ là phát triển vườn sầu riêng để khai thác những khu vực đặc biệt. Trong quá trình cải tạo ruộng bậc thang, anh đã khai quật được các di chỉ cổ của loài người, sau đó hợp tác với Sở Văn hóa và Bảo tồn, biến khu vực này thành Bảo tàng Di chỉ Sa Khanh.
Di chỉ Sa Khanh có sự phân bố hơi trái với trực giác.
Các di chỉ này đều phân bố tại các bãi đất cao và giữa sườn núi, chứ không phải ở những vùng lòng chảo sông, ven hồ hay đồng bằng ven sông như mọi người thường nghĩ.
Thư Nhã cầm điện thoại chụp ảnh, trong tủ kính pha lê trước mặt cô, là mười chiếc ngà voi.
"Đây là ngà voi châu Á cổ đại sao?"
"Ừm." Giang Miểu khẽ gật đầu: "Di chỉ này là khu vực quần cư của một bộ lạc từ 2460 đến 2800 năm trước. Vì vào thời điểm đó, trình độ phát triển ở khu vực phía nam còn tương đối thấp, nên nơi đây không có quá nhiều đồ đồng."
Toàn bộ di chỉ Sa Khanh, tổng cộng chỉ khai quật được 29 món đồ đồng, hơn nữa hầu hết đều là những món nhỏ, đơn giản.
Có ba món đồ đồng có giá trị tương đối cao, bởi trên đó có khắc văn tự của hai nước Sở và Việt. Trong đó, một món đồ đồng đã ghi chép lại quá trình bộ lạc này thần phục nước Sở và được Sở vương ban thưởng đồ đồng.
Ngoài ra, còn có hơn năm mươi chiếc mai rùa làm từ mai rùa biển có khắc giáp cốt văn, cùng nhiều vỏ sò, đồ đá và đồ gỗ khác.
Đây là một bộ lạc ở phía nam vào cuối thời kỳ đồ đá mới, nhưng lại thông qua giao lưu với các nước Sở và Việt ở phía Bắc, mà có được một số đồ đồng.
Đi đến phía tây của bảo tàng.
Nơi đây là một khu mộ táng, bên trong có không ít hài cốt người, thậm chí cả hài cốt của hổ Hoa Nam, voi châu Á, tê giác Đông Á cổ đại và cá sấu Lĩnh Nam cổ đại.
"Đây hẳn là khu vực hố tế tự và mộ táng của người cổ đại."
Thư Nhã vừa chụp ảnh, vừa đùa rằng: "Đều là xương động vật, có vẻ như bộ lạc thượng cổ này nghèo hơn rất nhiều so với bộ lạc ở di chỉ Tam Tinh Đôi."
"Chắc chắn là không thể so sánh với Tam Tinh Đôi rồi, chủ yếu vì ở Lĩnh Nam không có quá nhiều tài nguyên mỏ đồng và mỏ thiếc, cộng thêm khí hậu cận nhiệt đới gió mùa rừng mưa ở đây thời cổ đại, nên trình độ phát triển của con người chắc chắn thấp hơn lưu vực sông Trường Giang và Hoàng Hà."
Giang Miểu đã từng đi qua nhiều tuyến giao thông chính trong nước, trên đường đi, anh đã phát hiện không ít di tích cổ đại, do đó rất rõ tình hình phân bố các di chỉ cổ đại trong nước.
Chẳng hạn như ở đồng bằng Hoa Bắc, các di chỉ dưới lòng đất quả thực dày đặc như sao sa. Quy mô di chỉ ở lưu vực sông Trường Giang và khu vực Đông Bắc gần bằng đồng bằng Hoa Bắc. Còn lưu vực sông Châu Giang thì có quy mô di chỉ ít nhất.
Tuy vậy, di chỉ Sa Khanh này ít nhất cũng có những giá trị nhất định, còn các di chỉ cổ đại khác trong khu vực Sán Mỹ thì Giang Miểu không nghĩ đến việc khai thác, chủ yếu là do giá trị không lớn.
Để đánh giá giá trị của một di chỉ cổ đại, chủ yếu phải xem xét quy mô và các hiện vật cổ được khai quật.
Di chỉ Sa Khanh có đồ đồng, lại còn là đồ đồng có khắc văn tự, lại trực tiếp liên quan đến nước Sở và nước Việt, cộng thêm không ít ngà voi, sừng tê giác, xương hổ, da cá sấu, san hô, vỏ sò, ốc chuông, đồ đá và đồ gỗ.
Một di chỉ như thế này mới có thể phát triển thành một bảo tàng.
Chứ không phải những di chỉ chỉ có vài hố đất và chút ít đồ đá, thì làm sao mà khai thác phát triển được? Chẳng lẽ để du khách đến xem những hố đất đó ư? Tiền vé vào cửa còn không đủ để bảo trì bảo tàng.
Hai người từ bảo tàng bước ra, tại lối ra của bảo tàng là một cửa hàng hải sản lớn do hợp tác xã Hố Cát kinh doanh và một cửa hàng quà lưu niệm.
Thư Nhã bước vào cửa hàng quà lưu niệm.
"Đây là chiếc ốc chuông vừa rồi chúng ta thấy trong bảo tàng phải không!"
Bà chủ tiệm cười vui vẻ giới thiệu: "Cô gái à, chiếc ốc chuông này có thể thổi được đấy, cô xem này..."
Vừa nói, bà chủ vừa cầm một chiếc ốc chuông đã được cắt bỏ một phần nhỏ ở đuôi, thổi một hơi mạnh mẽ.
U u u....
Ngoài ốc chuông, còn có các bản sao đồ đồng tỷ lệ 1:1, chẳng hạn như chiếc gương đồng có khắc nội dung Sở quốc ban thưởng, được bày bán thành một dãy trong cửa hàng quà lưu niệm.
Tiếp theo là đủ loại đồ chơi nhỏ, cùng với các loại trang sức đá quý giá rẻ được mua từ trấn Đào Hà.
Thư Nhã đã mua một chiếc ốc chuông.
Còn Giang Miểu thì mua một bộ giáp da cá sấu phục chế theo tỷ lệ 1:1. Bộ giáp da cá sấu này có giá hơn tám nghìn tệ, được làm từ da cá sấu nuôi tại Lĩnh Nam.
Thực ra, trong khu mộ táng của di chỉ Sa Khanh, ngoài việc khai quật được 5 bộ giáp da cá sấu tương đối nguyên vẹn, còn phát hiện 8 bộ giáp da tê giác tương đối nguyên vẹn nữa.
Tuy nhiên, hiện tại tê giác là loài động vật được bảo vệ, do đó chỉ có thể phát triển các sản phẩm giáp da cá sấu làm vật lưu niệm.
Sau khi mua xong quà lưu niệm, hai người lại đến ngay cửa hàng sát vách, mang tên “Bộ lạc Thải Bối”.
Cái gọi là "Bộ lạc Thải Bối" chính là tên của bộ lạc này, do quan phương nước Sở đặt tên. Bởi sau khi bộ lạc này thần phục nước Sở, đã cống nạp rất nhiều trai tượng, trân châu và san hô đỏ cho nước Sở, nên được ban cho tên là Thải Bối bộ. Đây là một trong những nội dung được miêu tả trên 27 chữ minh văn khắc phía sau chiếc gương đồng.
Mà cái tên “Bộ lạc Thải Bối” này thực chất là một nhà hàng lớn.
Khi vợ chồng Giang Miểu đến, khá nhiều du khách đang tự tay nướng khoai lang bằng lò đất và làm gà ăn mày.
Ngoài những phương thức nấu ăn truyền thống địa phương này, còn có các món ăn được phục chế theo phương pháp chế bi��n của bộ lạc Thải Bối thời cổ đại, như “thịt nướng phiến đá”, “cá nấu nồi đá”, “cá nấu nồi bối lớn” và nhiều món khác.
Đây là thông qua việc khai quật và khảo cổ các đồ đá, mà suy luận ra được hình thức chế biến thức ăn của người cổ đại.
Tuy nhiên, món cá nấu nồi bối lớn của Bộ lạc Thải Bối thì rõ ràng không thể phục chế được, bởi vì 'bối lớn' mà người cổ đại dùng chính là vỏ sò trai tượng khổng lồ. Loài này hiện là động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng. Ngay cả việc nhập khẩu trai tượng từ các quốc đảo Nam Thái Bình Dương cũng là hành vi trái luật.
Hiện tại, những chiếc nồi bối lớn đều là nồi gốm sứ được đặt làm riêng để mô phỏng.
Toàn bộ bản dịch này thuộc về trang truyen.free, xin vui lòng không sao chép trái phép.