(Đã dịch) Tiêu Dao Tiểu Trấn Trưởng - Chương 466: Đã từng trí nhớ
Chim ưng biển thực chất không phải một loài chim ưng. Tên gọi này xuất phát từ quê nhà của Vương Bác. Nếu đổi sang tên khoa học, nó sẽ là chim Osprey – một loài chim lội rất giỏi bắt cá.
Vương Bác nhớ rằng, hồi tiểu học, trong sách giáo khoa có một chương nói về loài chim lội này.
Loài chim lội này đã được người Trung Quốc thuần hóa từ hơn ngàn năm trước. Ở những nơi có biển, hồ hay sông lớn, người ta thường xuyên có thể nhìn thấy chúng.
Ở quê của Vương Bác, chim lội được gọi là chim ưng biển. Bởi lẽ, dù không giỏi bay lượn, chúng vẫn có thể giúp ngư dân bắt cá, và đối với ngư dân, chúng chính là những con ưng trên biển cả.
Ngoài chim ưng biển, ở địa phương họ, loài chim lội này còn có một tên gọi khác là ô quỷ. Cách gọi này nghe không mấy hay ho, nhưng thực chất lại là một cách tôn xưng loài chim lội. Ở quê anh ta, từ "quỷ" có hai hàm nghĩa: khi là danh từ, nó mang nghĩa quỷ hồn truyền thống; còn khi là tính từ, nó chỉ sự lanh lợi, thông minh, ví dụ như trong cụm từ "đứa bé lanh lợi".
"Ô quỷ" chính là để hình dung sự thông minh của chim ưng biển. Ngoài hải âu, ở quê của Vương Bác còn có hai loài chim biển tương đối phổ biến: một là chim lội, hai là chim điên – loài có khả năng bay lượn vượt xa chim lội.
Nhưng chim điên thì ngu ngốc, hoàn toàn không thể thuần phục, còn chim lội thì thông minh hơn nhiều. Nuôi chim lội non trên thuyền, thêm chút huấn luyện là có thể biến chúng thành trợ th�� đắc lực trong việc bắt cá.
Thế nên, người ta gọi chúng là ô quỷ để hình dung rằng loài chim này không ngu ngốc như chim điên mà lại có bản lĩnh bắt cá cao siêu. Ở Trung Quốc, từ rất sớm đã có người bắt đầu thuần dưỡng chim lội và dùng chúng để bắt cá.
Thời thơ ấu của Vương Bác, bờ biển còn nhiều tôm cá. Khi đó, dân chúng không đủ tiền mua thuyền lớn, từng nhà dựa vào thuyền gỗ để đánh bắt. Giống như trong các phim phóng sự về vùng sông nước Giang Nam trên TV, ngư dân ra khơi đánh bắt cá thường mang theo những con chim lội đã được thuần hóa kỹ lưỡng.
Anh còn nhớ mang máng cảnh tượng ấy: một đàn chim lội, cổ đeo vòng, đứng chỉnh tề ở đầu thuyền, hệt như những binh sĩ đang chờ duyệt binh.
Khi đàn cá xuất hiện, chủ nhân thổi còi một tiếng, chim lội sẽ ào ào nhảy xuống nước bắt cá. Bởi vì đeo vòng cổ, chim lội bắt được cá không thể nuốt xuống mà sẽ ngậm cá quay về bên cạnh thuyền.
Cứ thế, sau khi chủ nhân thu lấy cá xong, chim lội lại tiếp tục lặn xuống đánh bắt. Cứ thế lặp đi lặp lại, chúng giúp ngư dân b���t cá.
Ngoài ra, trong văn hóa ngư nghiệp địa phương, chim lội không chỉ là cao thủ bắt cá mà còn là biểu tượng của một cuộc hôn nhân mỹ mãn.
Các lão ngư dân đều biết, uyên ương thực chất không phải loài chim chung thủy, một vợ một chồng trọn đời như người ta vẫn nghĩ. Chim lội mới đúng như vậy! Một đôi chim lội từ lúc quen biết, kết đôi, đến việc làm tổ, ấp trứng rồi nuôi chim non, chúng luôn bên nhau không rời.
Thêm vào đó, còn có mối liên hệ văn hóa truyền thống trong Kinh Thi. Mở đầu Kinh Thi có câu "Quan quan sư cưu, tại hà chi châu", trong đó "sư cưu" chính là chim lội. Chính vì những lý do này, khi kết hôn, ngư dân sẽ chọn một đôi chim lội già, đeo hoa hồng rồi đưa đến lễ cưới, để bày tỏ lời chúc phúc đồng lòng dành cho đôi vợ chồng mới cưới.
Vương Bác không ngờ rằng, chim ưng biển – trước đây vốn là trợ thủ đắc lực trong công việc và cuộc sống của ngư dân – bây giờ lại trở thành món ăn trên bàn tiệc, thật khiến anh khó mà chấp nhận!
Nghe thấy thắc mắc của anh, người phục vụ đưa khăn mặt nói: "Bây giờ khác xưa rồi, Vương tiên sinh à. Nhà nước đã ban hành luật pháp và quy định, coi chim ưng biển là công cụ đánh bắt trái phép, không cho phép ngư dân sử dụng. Vậy thì không thể xuống nước bắt cá, ai còn nuôi chim ưng biển nữa? Chỉ có thể bán cho nhà hàng làm món ăn thôi."
Vương Bác càng kinh ngạc hơn, hỏi: "Anh nói bậy gì vậy? Lại có cái luật lệ như vậy à?"
Người đó không nói hai lời, lấy điện thoại di động ra tìm kiếm một lúc, sau đó đưa cho anh xem một tin tức.
Vương Bác tập trung nhìn kỹ, thấy tin tức quả nhiên là nói về chuyện này, cuối cùng có văn bản điều lệ rõ ràng: Căn cứ Điều 20 của Luật Thủy sản của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quy định cấm sử dụng điện, chim ưng biển và thuyền dùng thuốc nổ. Trong các vùng thủy vực đặc biệt, nếu thật sự cần sử dụng điện hoặc chim ưng biển để đánh bắt cá, phải được phê chuẩn bởi cơ quan quản lý hành chính thủy sản cấp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương.
Thấy quy định này, anh thật sự không biết phải nói gì, quy định này thật vô lý quá!
Ngư dân sử dụng chim ưng biển hỗ trợ đánh bắt dẫn đến tài nguyên thủy sản cạn kiệt ư? Vương Bác cảm thấy thuyết pháp này quả thực nực cười, giống như một số chuyên gia nói rằng các bà nội trợ xào rau gây ra khói dầu, dẫn đến ô nhiễm không khí vậy.
Đối với ngư dân, chim ưng biển chỉ là trợ thủ đánh bắt. Một đàn chim ưng biển cả đời đánh bắt được tôm cá cũng không bằng một mẻ lưới của thuyền đánh cá. Hơn nữa, Vương Bác biết rõ rằng chim ưng biển chỉ có thể dùng ở hồ nước nông hoặc gần bờ biển. Nếu tiến vào biển sâu, chúng căn bản không thể phát huy tác dụng lớn.
Bởi vì chim ưng biển giỏi lặn xuống nước chứ không giỏi bay lượn. Ở biển sâu gió lớn sóng mạnh, chúng một khi xuống nước căn bản không thể bay lên, dễ dàng dẫn đến cái chết.
Mà bây giờ, gần bờ biển làm gì còn tôm cá nữa? Thế nên, vì lý do đó mà cấm ngư dân nuôi chim lội, Vương Bác thật sự không thể chấp nhận được.
Tuy nhiên, đây là quyết định chính sách từ cấp trên, anh không có tư cách bày tỏ ý kiến, càng không thể thay đổi sự thật này, chỉ có thể lắc đầu chịu thua.
Đầu bếp béo kéo lồng chim ưng biển vào phòng bếp, chỉ tay ra hiệu cho người chuẩn bị nước ấm. Những con chim ưng biển núp mình trong lồng sắt, rụt rè nhìn mọi người, trong đôi mắt đen láy lộ ra vẻ vô cùng đơn thuần.
Vương Bác đưa tay vào trong lồng sắt, một gã đầu bếp tiến tới niềm nở nói: "Vương đại ca, anh cẩn thận đấy, coi chừng bị chim ưng biển cắn."
Chim ưng biển có cách tấn công giống như loài ngỗng lớn. Chúng có mỏ dài nhọn, khi tấn công sẽ cắn chặt đối thủ rồi vặn mạnh cổ.
Vương Bác nhẹ nhàng vuốt ve bộ lông bóng mượt của những con chim ưng biển này, nói: "Đây đều là chim ưng trưởng thành cả rồi. Anh nhìn ánh mắt và động tác của chúng thì biết, đây là những con chim ưng biển không biết đã bắt bao nhiêu cá rồi, làm sao nỡ lòng nào bán cho nhà hàng chứ?"
Chim ưng "trưởng thành" là cách dân bản xứ gọi những con chim ưng biển đã được nuôi dưỡng tương đối lâu. Chữ "trưởng thành" ở đây mang nghĩa là quen thuộc, ám chỉ loại chim ưng biển đã quen thuộc với con người, hiền lành và ngoan ngoãn.
Quả nhiên, khi anh đưa tay vào trong lồng sắt, những con chim ưng biển này liền ào ào đưa cổ lên, dùng mỏ nhọn nhẹ nhàng mổ vào bàn tay và mu bàn tay anh. Anh biết rõ, đây là chim ưng biển đang đòi ăn.
Không hề nghi ngờ, những con chim ưng biển này đã đói từ rất lâu rồi.
Thấy Vương Bác dường như rất hứng thú với chim ưng biển, gã đầu bếp kia cố tình tiến lại gần, góp chuyện, nói: "Vương lão đại, anh có thích ăn chim ưng biển không? Nhà hàng chúng tôi có cách chế biến đặc biệt là chim ưng biển trước tiên không cắt tiết, mà trực tiếp thả vào nồi nước sôi cho chết ngạt..."
Vương Bác không thể nghe thêm được nữa, cắt ngang lời hắn, lạnh lùng nói: "Anh không thấy làm vậy quá tàn nhẫn sao? Anh xem những con chim ưng biển này, không ít con cái sắp đến kỳ sinh sản rồi, làm như vậy e rằng sẽ tổn hại đến thiên hòa!"
Chim ưng biển có đang trong kỳ sinh sản hay không, nhìn lông vũ là có thể biết đại khái.
Loài chim này có mặt khắp nơi trên toàn cầu, New Zealand cũng có, ví dụ như chim lội đốm. Lông vũ của chúng có màu sắc vô cùng phong phú. Chim lội ở quê Vương Bác là loài chim lội thông thường, thân phủ lông màu xám đen. Mí mắt và phần cổ họng có màu sắc khác nhau; xanh lam, cam, đỏ hoặc vàng đều có thể thấy.
Một khi vào mùa sinh sản, những bộ phận lông vũ này của chim lội sẽ trở nên rực rỡ hơn. Vương Bác lại gần xem xét, phát hiện lông vũ dưới cổ họng của những con chim lội này đã trở nên rất rực rỡ, đây là dấu hiệu chúng đã bước vào kỳ sinh sản.
Bản biên tập này thuộc về truyen.free, với mong muốn truyền tải trọn vẹn tinh hoa của câu chuyện.