(Đã dịch) Đường Tàn - Chương 203: Nam Thiên 3
Kết quả thẩm vấn các tù binh cướp biển trên những chiếc thuyền khác cũng đã có. Lần này, việc gặp cướp biển trên biển thực chất là do sự kết hợp của nhiều toán hải tặc lớn nhỏ thuộc các thế lực khác nhau, tập hợp lại sau những biến cố liên tiếp ở An Nam và Quảng Châu. Trong đó có cả giặc cướp bản địa An Nam, người Thiên Trúc và Chân Lạp chạy trốn từ bên ngoài, thậm chí còn có một toán nhỏ người Thất Lợi Phật (Srivijaya) bị thất thế.
Người đứng đầu thế lực lớn nhất trong số đó lại là một quốc sư phản bội dưới trướng họ Gia Cát, đến từ vương triều Chiêm Thành vừa bị lật đổ chưa lâu, được người ta gọi là "Quốc Thúc Đổng Bính Long". Chính là kẻ xui xẻo bị bắn chìm cùng lúc với chiếc thuyền cướp lớn nhất kia.
Chu Hoài An nhờ vậy cũng tìm được thêm nhiều thông tin về các phiên quốc ngoại vực ở Nam Hải.
Ví dụ: Hiện tại, phần lớn Chiêm Thành và vùng đất rừng núi Tiểu Quốc (Cửu Long bình nguyên, nơi Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc) đang nằm dưới sự cai trị của Đà La Bạt Xoa, một võ tướng đã tiếm ngôi. Ông ta sùng đạo Phật giáo Đại thừa, bãi bỏ tín ngưỡng Bà La Môn vốn có và dùng Quan Âm Nam Hải làm thần bảo hộ vương thất. Tuy nhiên, ở các vùng như Kauthara (nay là Nha Trang, Việt Nam), vẫn còn tàn dư thuộc hạ của họ Gia Cát cố thủ chống đối.
Còn ở vùng đất Chân Lạp (Campuchia và Lào), hiện nay đang dưới sự thống trị của đế chế Angkor lừng lẫy, với di tích nổi tiếng thế giới Angkor Wat do hậu thế để lại. Dù đã trải qua bốn đời vua trị vì, nhưng các tiểu quốc phụ thuộc và thành bang nổi loạn ở Chân Lạp vẫn liên tiếp nổi dậy, điều này cũng sản sinh ra vô số người tha hương phải bỏ xứ ra đi.
Cường quốc Thất Lợi Phật (Srivijaya) ở Sumatra cũng không được yên ổn. Chín dòng họ quyền quý không coi trọng quốc chủ khiến vương thất suy yếu, lại còn liên tục giao tranh chiếm đất ở các địa phương. Vì vậy, rất nhiều người dân bản địa khốn cùng, phiêu bạt đã trực tiếp trở thành những kẻ cướp bóc trên biển.
Riêng đối với An Nam bản xứ, sau khi triều đình đại diện quan phủ bị nghĩa quân đánh bại và buộc phải cầu hòa, quy thuận phía Quảng Châu, cũng tương tự là các vấn đề và rối loạn liên tiếp phát sinh, dần khiến trật tự địa phương suy yếu, bắt đầu mất đi sự uy hiếp và ràng buộc. Đương nhiên, nhân cơ hội hỗn loạn, đủ loại hải tặc cướp bóc thương nhân qua lại đã hình thành.
Trong số đó, một nhánh cướp biển mới nổi với biệt hiệu "Ruồi Hổ Tử" chính là đầu mối dẫn đến đám hải tặc ngoại bang này. Từ đó, liên minh hải tặc của chúng đã hoạt động trên vùng biển này được vài tháng, chuyên nhắm vào những con thuyền có kích thước nhỏ hoặc đi lẻ để cướp bóc. Nhờ vậy, chúng thu được nhiều chiến lợi phẩm, xây dựng cứ điểm ẩn náu và tìm được nơi tiêu thụ hàng hóa trên bờ.
Chỉ tiếc là nhánh hải tặc bản địa này lại phụ trách truy đuổi và chặn đánh mấy chiếc thuyền lúc trước, nhưng cuối cùng để sổng hai chiếc; đáng tiếc là không bắt được tên nào sống sót. Chu Hoài An cũng không có ý định tiếp tục truy kích, dù sao việc chinh phạt An Nam đang ở trước mắt, thực sự không thích hợp gây thêm rắc rối.
Hơn nữa, vùng biển có nhiều đảo san sát và thủy văn phức tạp này vốn không thân thiện với những con thuyền lớn. Thực sự, nếu mù quáng lao vào mà không có sự chuẩn bị nào, thì chẳng khác nào tìm đến cái chết hoặc tự dâng mình cho kẻ khác.
Chỉ là sau khi chiếc thuyền lớn Côn Luân bất chấp lời khuyên mà một lần nữa nhổ neo, không lâu sau lại gặp phải hải tặc có tổ chức; điều này thực sự khiến người ta phải suy ngẫm. Những toán hải tặc nhỏ hoạt động riêng lẻ thì không có gì lạ, nhưng việc tập hợp được nhiều toán cướp biển thuộc các khu vực và chủng tộc khác nhau như vậy, rồi có mục tiêu rõ ràng để tấn công, thì đó không còn là chuyện đơn giản nữa.
Điều này cũng khiến Chu Hoài An, người luôn trăn trở những suy nghĩ, nay bỗng có thêm vài manh mối mới.
Kế tiếp, sau khi đi dọc bờ biển thêm nửa ngày, đã có thể nhìn thấy cảng lớn Giao Châu, tức là cảng ở cửa sông Linh Giang, nay thuộc vùng Thuận Hóa, Việt Nam. Căn cứ theo ghi chép trong "Thủy Kinh Chú. Ôn Thủy" của Lý Đạo Nguyên đời Bắc triều: "Giữa trưa, cảnh vật trên đầu soi bóng xuống dưới thân (nước), cùng với cảnh vật trên bờ so sánh". Thuần túy mà nói, chính là dùng cảnh tượng độc đáo này để đặt tên cho huyện.
Từ thời Hán chinh phục Nam Việt đã có ghi chép về giao thương hải ngoại, đến các triều Tấn, Tống, Tề của Nam triều đều kế thừa truyền thống ấy. Đến đời Đường càng thêm phồn thịnh, phàm những thương nhân buôn bán trên biển hoặc tăng nhân cầu pháp cất cánh đi Nam Hải và các nước Ấn Độ, phần lớn đều "buông buồm đậu cảng" ở đây. Khi trở về nước, họ lại tạm thời neo đậu tại đây "nghỉ ngơi rồi về Đường", khi đó là bến cảng lớn thứ hai ở Nam Hải, chỉ đứng sau Quảng Châu.
Đây cũng là một trong những nơi nổi tiếng về sửa chữa và đóng thuyền thời bấy giờ, là một trong những mục tiêu chính mà Chu Hoài An đang nhắm tới trong chuyến đi này. Không cần nói thêm, nếu có thể chiếm được Giao Châu cảng lớn này, điều đó sẽ mang lại vô vàn lợi ích và nguồn thu ổn định lâu dài.
Chỉ là dường như lần gặp cướp biển này, vận rủi bất ngờ chưa tan biến hết, bởi ngay cả khi còn ở rất xa, cũng có thể thấy vài cột khói đen cuộn lên từ bên trong Giao Châu cảng.
Trong ấn tượng ban đầu, đây là một khu cảng rộng lớn trải dài hai bên cửa sông hình loa kèn, và cả trên những bãi bồi giữa dòng. Điều nổi bật nhất không thể nghi ngờ là những dãy nhà san sát, ken đặc như tổ ong, cùng với những căn nhà sàn, nhà gỗ dựng trên bãi cát hoặc ngay trên mặt nước; còn có những cầu tàu dài ngắn chi chít như rết vươn mình ra biển; cùng với vô số nhánh sông, kênh rạch chằng chịt như mạng nhện phân tán giữa các khu vực; và những con thuyền lá liễu nhỏ bé đi lại như cá bơi.
Sau đó, ở vùng đất bằng hai bên bờ sông, nơi cửa sông đột ngột thu hẹp lại, phía sau khu cảng và chợ, mới là những khoảng đất rộng lớn được bao quanh và ngăn cách bởi hàng rào và tường gỗ kiên cố. Đó là các khu dân cư với lều lán bằng tre gỗ, nhà tranh vách đất, hoặc những tòa nhà mái ngói nhiều tầng nối tiếp nhau. Xen kẽ những bụi chuối xanh um, hoa cỏ, thảm thực vật xanh tươi, thỉnh thoảng còn có những ngôi chùa miếu, từ đường với tháp đặc trưng, mái cong, chóp nhọn, lại mang đậm phong cách kiến trúc Đường.
Phía ngoài cảng thành phố và các khu dân cư, lại là những đồi thấp rậm rạp cây cối và cây bụi, cùng với vô số ruộng nước và vườn cây ăn trái chen chúc bao quanh các trang viên và làng mạc dọc hai bên bờ sông. Với sự thay đổi dần dần từ trong ra ngoài như vậy, nơi đây đã tạo nên một cảnh quan vô cùng đặc sắc và tươi đẹp trên bán đ���o phía Nam. Chỉ là giờ đây, khung cảnh ấy đã bị xáo trộn, hoang tàn.
.....
Trong cảng, sự hỗn loạn bùng nổ, nhiều kẻ cướp bóc và phóng hỏa, còn có những kẻ xông vào từng nhà, cướp sạch các thương hộ tự cho mình là giàu có. Lâm Thâm Hà, người từng thuộc đội quân nhu, chỉ còn biết cầm đao cùng đám người hầu và nhân viên của mình, canh giữ phía sau cánh cửa chất đầy đồ lặt vặt, bất lực nhìn mọi chuyện xảy ra.
Mặc dù đám giặc cướp ngang nhiên phóng hỏa trong kho hàng cách đó không xa, hoặc vung đao chém rách từng kiện hàng hóa, bao bì được gói ghém cẩn thận trong thuyền, hòm xiểng và túi, thỉnh thoảng lại có kẻ xô cửa, nhưng chỉ cần thấy không mở được và không có phản ứng gì thì chúng lại bỏ đi. Thế nhưng, anh ta vẫn phải một mặt động viên và an ủi thủ hạ của mình.
"Đồ đạc cháy thì cháy, chỉ cần người không sao là tốt rồi..."
"Chỉ cần còn người, dù ít dù nhiều, hàng hóa cũng có thể mua lại được. Đây chính là lời vị Hư đại sư kia đã nói..."
"Chính là vị đang cai quản Quảng Phủ, lo liệu mọi chuyện đó sao?"
"A Di Đà Phật, vậy thì thật là được ông trời phù hộ..."
Nghe được cái tên này, đám người hầu và tiểu nhị đang ẩn mình trong kho, sắc mặt cũng giãn ra rất nhiều; còn có người chủ động lên tiếng giải thích và an ủi những người nhà mà họ mang theo.
Trái ngược với việc nhiều lãnh chúa lớn ở địa phương muốn sản vật đặc sắc, thực tế Giao Châu cảng ngày thường thịnh vượng chủ yếu nhờ vào hoạt động trung chuyển hàng hóa quy củ, cùng với sự phát triển của nghề đóng thuyền địa phương. Do đó, khi cảng Quảng Châu ở thượng nguồn gặp phải nguy cơ đóng băng và cấm vận hàng hóa, Giao Châu cảng cũng không tránh khỏi tác động tiêu cực từ sự đình trệ kinh tế, trở nên tiêu điều không ít.
May mắn thay, dưới sự cai quản của nghĩa quân, các cảng ở Quảng Châu, dưới sự chủ trì của một người có năng lực, lại có thể mở cửa giao thương qua biển. Là cảng trung chuyển, Giao Châu cảng cũng có thể khôi phục không ít thị trường và khởi sắc. Lâm Thâm Hà, xuất thân từ một tiểu thương thất bại, tự thấy mình không còn nhiều cơ hội trong đội hậu cần quân nhu, liền xung phong nhận nhiệm vụ làm cơ sở ngầm và tai mắt cho nghĩa quân, theo chân một thương hiệu lâu đời đến Giao Châu cảng này.
Với thân phận chủ sự buôn bán gạo và kho hàng, anh ta bắt đầu tại bến cảng nơi dòng người, vật liệu và tin tức hội tụ, thu thập các thông tin về giá cả hàng hóa, tình hình dân sinh, dân số, sản vật địa phương cùng những vấn đề liên quan khác. Anh đã tận mắt chứng kiến quá trình Giao Châu cảng dần hồi phục trong mấy tháng qua, cùng với xu hướng trật tự và sức ràng buộc của địa phương dần tan rã.
Đầu tiên là những người đi đường và thương nhân lẻ tẻ bị cướp bóc, sau đó là những thi thể bị lột sạch trơn, ngang nhiên vứt bỏ bên vệ đường; vì vậy ban đêm không còn ai dám đi đường. Tiếp đến, rất nhiều phú hộ địa phương và thương nhân khắp nơi cũng lần lượt trốn vào trong thành cảng. Trong quá trình này, cũng bắt đầu xuất hiện những kẻ ban ngày ban mặt tụ tập cướp bóc trên đường, hoặc mai phục trong rừng núi cách cảng không xa.
Thậm chí có những lúc đứng trên tường rào bên ngoài thành cảng, người ta còn có thể nghe thấy tiếng la hét thảm thiết và van xin tha mạng của những người bị chúng giết hại. Còn số ít lính thuế và đoàn luyện còn sót lại trong thành cảng thì thờ ơ đứng nhìn, hoặc có thể nói, có một sức mạnh vô hình nào đó đang ràng buộc họ, khiến họ không muốn làm bất cứ điều gì dư thừa. Cuối cùng, cư dân ở mấy thị trấn xung quanh liên quan đến khu cảng cũng bắt đầu kéo bè kéo lũ trốn chạy đến đây.
Lúc này, đám cướp bóc, trộm cắp ăn mặc rách rưới cũng bắt đầu ngang nhiên xuất hiện bên ngoài tường rào thành cảng để thăm dò. Bởi vì có tin tức nói rằng, ở địa phương không còn lực lượng nào có thể kiềm chế chúng. Những gia tộc giàu có, quyền thế ở địa phương đều đã tập trung lực lượng đi vây đánh châu thành Giao Châu. Dù không để lại đủ lực lượng vũ trang, thì những ổ bảo mà họ xây dựng cũng đủ sức khiến bọn trộm cướp thông thường không thể làm gì; nhưng dân thường ở bên ngoài ổ bảo hoặc những thôn trại xa hơn thì không có được may mắn ấy.
Với lượng lớn dân số ùa vào, cảng thành phố vốn rộng lớn này cũng trở nên chật chội, hỗn loạn, thậm chí phát sinh vô vàn vấn đề về an ninh trật tự. Đầu tiên là các vụ cướp bóc lương thực, sau đó là ban đêm đột nhập phá cửa cướp sạch. Rồi số lính thuế và đoàn luyện còn sót lại, cùng với uy quyền và khả năng duy trì tr��t tự bề ngoài của họ, cũng hoàn toàn tan rã sau một cuộc nội chiến không rõ nguyên nhân.
Diễn biến đến tình hình hiện tại, hiển nhiên ngay cả những người tị nạn, dân chạy loạn, cũng đã tham gia vào làn sóng cướp bóc cuồng nhiệt không kiêng nể này. Nghĩ đến đây, Lâm Thâm Hà không khỏi sờ sờ cái mông vẫn còn đau tức, đó là vết thương khi anh ta dẫn người ra ngoài đón tiếp các đơn vị liên quan và người thân, bị một mũi tên lạc bắn trúng.
"Chết tiệt..."
Anh ta đột nhiên oán hận kêu lên, bởi vì anh ta nhìn qua khe hở thấy đám côn đồ cướp bóc đã phóng hỏa đốt sân chất đống hàng hóa cách đó không xa. Nếu không nhanh chóng lao ra dập lửa hoặc ngăn cách, e rằng gió sẽ thổi cháy cả nơi ẩn náu của mình.
Anh ta không khỏi nắm chặt cây đao ngang dài tám thước trong tay, quay ra phía sau nói.
"Ta cần vài người có gan lớn..."
Sau đó, một tiếng rít không rõ tựa như thủy triều vang lên, kèm theo tiếng sáo và tiếng còi mơ hồ quen thuộc.
Tất cả nội dung này đều thuộc bản quyền của truyen.free, nghiêm cấm sao chép dưới mọi hình thức.