Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Đường Tàn - Chương 244: Đương quy 3

So với chuyến đi trước, khi phải đối mặt với bao sóng gió hiểm nguy, chặng đường trở về này bình yên hơn nhiều.

Trong khi đoàn thuyền lớn đã xuất phát trước đó từ bến cảng, mang theo vô vàn của cải cùng nhân lực vật lực, thì Chu Hoài An lại dẫn theo đội ngũ tinh nhuệ của mình đi một tuyến đường Đại Vận Hà trên biển khác. Tuyến đường này chạy từ phía Nam đến Hải Môn Trấn (nay là khu vực quanh Hải Phòng) và về phía Bắc đến Khâm Châu Giang khẩu (nay là khu vực vịnh Nguyệt Nha thuộc thành phố Phòng Thành, Quảng Tây), qua kênh đào Oanh Đàm. Bởi vì phần lớn lòng sông này xuyên qua những dải đất ven biển, nên hầu như không gặp sóng gió hiểm nguy, cũng chẳng phải lo ngại dòng nước xiết hay thủy triều lớn. Con đường sông uốn lượn, rộng và sâu ấy giờ đây tấp nập thuyền bè lớn nhỏ của dân chài và thương nhân qua lại.

Trong số đó có những thương nhân Lĩnh Nam và người đội nón lá từ vùng Kiềm (nay là bắc Quý Châu), những trai gái dân tộc Thổ quấn khăn vấn đầu, mặc áo vạt chéo, thậm chí cả những lữ khách ngoại bang từ Nam Chiếu với tóc búi gọn gàng, cài vật trang sức hoặc để mình trần, quấn khố đơn sơ. Điều này khiến người ta không khỏi cảm thán trước sức hút mãnh liệt của tiền tài, thương nghiệp và khai thác mỏ, những thứ có thể trực tiếp vượt qua mọi rào cản dân tộc và quốc gia trong thời đại này.

Khi thuyền lướt đi giữa lòng sông, ngoài việc ngắm nhìn đủ loại khách thương lữ nhân qua lại và phong cảnh đa dạng của các dân tộc Thổ ven đường, còn được chiêm ngưỡng vẻ đẹp khó lường, thướt tha của bán đảo phía nam. Có khi, người ta có thể thấy một bên là biển xanh mênh mang, sóng lớn rì rào như thủy triều dâng, còn một bên là con kênh đào chạy song song trên đất liền, yên ả không chút xao động dưới ánh bình minh và làn gió nhẹ. Sự tương phản rõ rệt giữa cái động và cái tĩnh này đôi khi lại hòa vào nhau ở một khúc cửa sông ngắn, để rồi chuyển mình thành một bức tranh thủy mặc xanh biếc hòa quyện dần vào đường chân trời.

Có đôi khi là những đồi núi trùng điệp trải dài đến hút tầm mắt, như hàng lông mày xa tít tắp điểm xuyết những xóm làng lấm tấm trên đất liền; có khi lại là những vách núi dựng đứng hùng vĩ, hay núi cao đá lởm chởm ngay trước mắt. Đôi lúc lại là những khoảng đất rộng rãi, sáng sủa nằm giữa những khe núi hẹp, uốn lượn, nơi dòng suối chảy qua những thung lũng sâu hoặc những vùng quê với những bờ ruộng xếp lớp như chốn đào nguyên bình dị. Đôi khi, ẩn mình giữa những kẽ nứt bí ẩn của núi rừng, đột nhiên tuôn trào dòng nước xiết cuồn cuộn, xoáy nhẹ trên mặt sông; hoặc là thác nước cao đổ xuống khe sâu, chảy róc rách, lơ lửng trong không trung, tạo thành màn mưa bụi ẩm ướt. Có đôi khi, trong những cánh rừng rậm rạp, um tùm hoặc thơm ngát hương cây cỏ, lại bắt gặp những loài động vật hoang dã hoạt động không ngừng nghỉ ngày đêm như vượn, báo, voi. Tình cờ bị ngăn cách bởi thuyền, chúng nhìn nhau một cách ngơ ngác, sau đó hoặc là kêu la ầm ĩ náo động, hoặc là hờ hững đưa mắt nhìn nhau rồi bỏ đi xa.

Khi thuyền neo đậu nghỉ ngơi tại một cửa sông gần làng chài ven đường, Chu Hoài An còn cố ý đến nơi được gọi là “Thiên Uy Xa”, “Tiên Nhân Lũng”. Tại đó, ông đã quan sát và khám xét kỹ lưỡng con thác đá chắn ngang cửa sông. Chỉ tiếc là ông chỉ thấy những phiến đá bị nước bào mòn, cùng những dấu vết rõ ràng của búa, rìu, đục; chứ không hề phát hiện manh mối hay dấu vết nào chứng tỏ đã có thuốc nổ được sử dụng. Còn những dấu vết ám khói cháy trên tảng đá lớn, chắc hẳn là do khách bộ hành, thương nhân qua lại qua các đời, cùng với dân địa phương đã đến bái lạy và tế cáo di tích này mà để lại. Cuối cùng, chính tại con thác đá trên lòng sông cũ lộ ra sau khi con đường bị đổi, Chu Hoài An đã phát hiện nhiều hóa thạch sinh vật cổ, coi như một món kỷ vật và minh chứng cho chuyến đi này.

Có điều lần này phát hiện cũng khơi gợi trong lòng ông nhiều suy tư. Kỳ thực, từ trước đến nay Chu Hoài An vẫn còn chút do dự một chuyện khác, đó là có nên công bố một phần những kỹ thuật hàng hải mà mình biết từ đời sau hay không. Chẳng hạn, trải qua gần ba trăm năm giao lưu đối ngoại kể từ khi Đại Đường khai quốc, người Đường trong thời đại này kỳ thực đã có la bàn nước để định hướng, còn có bảng thiên văn (astrolabe) do người Ả Rập truyền vào, hỗ trợ pháp định vị thiên thể cổ đại, nhằm đảm bảo phương hướng và xác định vị trí. Mà trong năm Khai Nguyên, khi điều chỉnh lại lịch pháp của thiên hạ và đo hoàng đạo kinh tuyến, lại càng có nhà thiên văn học kiêm nhà khoa học cổ điển nổi tiếng, Nhất Hạnh, đã phát minh ra “Phục Cự”. Thiết bị này có thể sử dụng để đo độ cao sao Bắc Đẩu tại hai địa điểm khác nhau, từ đó xác định sự thay đổi khoảng cách bắc nam, một kỹ thuật đo đạc địa lý vĩ đại.

Còn có phương pháp biên soạn tài liệu hướng dẫn dựa trên các vật mốc tọa độ địa lý ven đường. Như trong cuốn “Hải đảo tính Kinh”, thông qua việc áp dụng định lý Pytago và nguyên lý tỷ lệ của các tam giác đồng dạng, cùng với “Trùng Không Điều Pháp” (phép tính hai lần quan trắc) để đo đạc các mốc trên đất liền. Ngoài ra, người Đường đã bước đầu xây dựng nên những khái niệm định lượng hàng hải liên quan đến gió mùa, không chỉ nắm giữ quy luật đến của gió mùa, mà còn có thể tính toán chính xác thời điểm gió mùa đông bắc tới, để thiết lập chu kỳ ra khơi đúng lúc. Và đến thời kỳ của những danh tướng, dựa trên những cơ sở này, thậm chí đã biên soạn ra các tác phẩm như “Trong Biển Hoa Di Hình”, “Cổ Kim Quận Quốc Huyện Đạo Tứ Di Thuật”, “Hoàng Hoa Tứ Quá Ký”, miêu tả cụ thể tình hình và thời gian cần thiết trên đường đi từ Quảng Châu, qua Vịnh Ba Tư, đến các nước Côn Luân ở khu vực Đông Phi. Mà người bị quân Đại Thực bắt làm tù binh trong trận chiến Talas, sau đó trải qua hành trình dài đến nhiều quốc gia ở Âu Á và châu Phi, từ vương triều Abbas, Đông La Mã, vương quốc Frank, Ai Cập, cho đến vương quốc Aksum ở Ethiopia. Cuối cùng, sau khi theo thuyền từ cảng E-xa-oa thuộc nước Dã Bất Nại (nay là miền nam Somalia thuộc Đông Phi) trở về nước, đã để lại tác phẩm “Kinh Hành Kỷ Sự” (hay “Trải Qua Ký”), có thể sánh ngang với “Đại Đường Tây Vực Ký” của Huyền Trang, càng mở ra một cánh cửa giúp người Đường hiểu biết về thế giới xa xôi vạn dặm.

Ngoài ra, còn có kỹ thuật đóng tàu với kết cấu sống rồng, vách khoang kín nước dày dặn bằng gỗ trẩu và vôi; vỏ đồng bọc đáy thuyền; bản đồ hải trình nguyên thủy và biểu đồ tinh vị được in bằng đồng. Người ta còn dùng dây có buộc chì để đo độ sâu biển, dựa vào bùn cát dính ở đầu dây để phán đoán vị trí và tình hình đáy biển; sử dụng bồ câu đưa thư làm công cụ liên lạc trên biển; và đã có thể dùng bong bóng cá cùng cưa mảnh để sửa chữa tàu dưới nước, ngăn ngừa rò rỉ gây chìm. Những kỹ thuật đóng thuyền và hàng hải tân tiến này đủ sức vượt xa phần lớn các nền văn minh và quốc gia khác trên thế giới.

Giống như bảo thuyền của Trịnh Hòa đời sau, thời đại này cũng có một loại thuyền lớn đi biển xa được gọi là “thuyền Mộc Lan”, tương truyền có thể chở năm, sáu, bảy trăm người và đi liên tục hơn nửa năm. Do đó, thuyền Mộc Lan thường xuất hiện trong nhiều bài thơ Đường; thi nhân đời Đường từng viết: “Lòng này đã cùng thuyền Mộc Lan, mãi đến tận Thiên Nam thủy triều thế nước.”

Trong tình huống như vậy, những công cụ quan trắc vị trí mặt trời như thước trắc đạc, hay những thiết bị đo góc thiên thể so với đường chân trời của đời sau, lại có vẻ không mấy cần thiết. Ngược lại, một số thiết kế thuyền buồm thời kỳ Đại hàng hải, công nghệ chế tạo vải bạt buồm có khả năng điều khiển tốt hơn, cùng với các loại ròng rọc kết hợp dây thừng, lại có vẻ hữu ích hơn. Kỹ thuật dệt vải bạt dày (vải sợi thô) và vải bạt mỏng (vải sợi mịn) với nhiều đường chỉ, trong thời đại này kỳ thực không có gì khó khăn về kỹ thuật. Ngay từ thời La Mã cổ đại đã có những ứng dụng tương tự ở dạng nguyên thủy; chỉ là trước khi máy dệt chạy bằng sức nước ra đời, việc sản xuất đòi hỏi nhiều nhân công hơn mà thôi.

Mà tất cả những phát minh này đều phải trải qua giai đoạn suy thoái và mất mát kéo dài trong loạn lạc Ngũ Đại, đến thời Nam Tống mới được phục hồi và phát triển mạnh mẽ trở lại. Vậy nên, liệu mình có nên đóng vai một nhân vật giật dây phía sau, để những tiến bộ này đi xa hơn trên một con đường khác chăng?

Mang theo những suy tư ấy, Chu Hoài An đến Khâm Châu Giang khẩu (vùng Bạch Nham), rồi từ đó đổi sang thuyền lớn để ra khơi. Đồng thời, ông cũng nhận được tin tức mới nhất từ phía quan phủ. Chẳng hạn, Ty Trấn giữ quả nhiên đã chấp nhận kiến nghị của ông, thành lập nhiều đội trưng thu vũ trang, tiến hành thanh tra và trưng thu tài sản tại các chùa chiền, cơ sở tôn giáo thuộc quyền quản lý của mình. Mặc dù trong thời gian ngắn đã nhanh chóng thu về được một lượng lớn tiền bạc và vật dụng, nhưng cũng vì thế mà gây ra nhiều phản đối và mâu thuẫn.

Các chùa chiền trong thành thị thì còn dễ giải quyết, đơn giản là tài sản thay người hoặc thái độ bất hợp tác phi bạo lực mà thôi. Thế nhưng, đối với nh���ng ngôi chùa địa phương chiếm hữu nhiều ruộng đất tốt, có đông đảo tá điền, thì mọi chuyện lại không hề đơn giản như vậy. Thậm chí, ở một số nơi, lại xuất hiện những nhóm nông dân mới tập hợp dưới danh nghĩa chùa chiền để chống lại các đội trưng thu của Ty Trấn giữ. Tình hình nổi dậy như ong vỡ tổ này khiến Ty Trấn giữ trong thời gian ngắn không kịp trở tay, đành phải bỏ qua một số nơi.

Hơn nữa, dưới hoạt động của các đội trưng thu, không có gì đáng ngạc nhiên khi từ trong những chùa miếu ấy thường giải cứu được rất nhiều phụ nữ, thu giữ được nhiều vật phẩm quý giá không phù hợp với thân phận người tu hành, thậm chí cả binh khí mà quan phủ đã ban lệnh cấm nghiêm ngặt. Trong số những người phụ nữ bị giấu giếm này, có người là vợ tá điền bị chiếm đoạt, có người là nạn nhân bị cướp bóc, và cũng có những người bị mua bán hoặc trở thành nô lệ trong thời loạn lạc. Có thể nói, ngoại trừ các khu vực ven biển có mức độ khai hóa tương đối cao, nơi vẫn còn một số vị cao tăng thực sự khổ tu và truyền bá đại pháp, thì tình trạng tệ nạn ẩn chứa trong các chùa miếu vùng đất liền Lĩnh Ngoại kỳ thực không hề thua kém, thậm chí còn vượt xa những “đại sư” đáng bị diệt pháp ở đất liền. Bởi vì vị trí hẻo lánh, một số chùa chiền trong núi đã dứt khoát trở thành sào huyệt của những kẻ khoác áo tăng bào giả làm sư, cướp bóc, và những cường hào địa phương trá hình.

Vốn dĩ, Chu Hoài An dự định để các chùa chiền này lại xử lý sau cùng, đợi khi nghĩa quân đã đứng vững trên mọi phương diện, mới dùng chiến thuật 'luộc ếch trong nước ấm' mà từ từ thu thập và xử lý 'con dê béo' này. Tuy nhiên, bây giờ thì ông chỉ có thể ném cho Ty Trấn giữ làm một phương án thay thế và mồi nhử trước mắt. Đây cũng là một dương mưu (kế sách công khai) đường hoàng, khiến Ty Trấn giữ, vốn đang sốt ruột đáp ứng yêu cầu, không thể không nỗ lực đối phó và tính toán kỹ lưỡng. Có điều, nếu ý đồ này bị tiết lộ ra ngoài sau này, chắc chắn ông sẽ khó thoát khỏi cái danh “Phật địch ngoại đạo” theo một ý nghĩa nào đó.

Ít nhất trong mắt Chu Hoài An, tình hình ở An Nam thì đỡ hơn nhiều. Nơi đây cả Phật giáo và Đạo giáo đều phát triển, Nho giáo cũng có sức ảnh hưởng tương xứng; sự tồn tại của chùa miếu chủ yếu là để truyền giáo và quy phục người dân tộc thiểu số, đóng vai trò trợ lực quan trọng. Mặt khác, An Nam cũng không có nhiều chùa chiền tích lũy quá nhiều ruộng đất tốt, nên trong danh sách xử lý của Chu Hoài An, An Nam xếp khá thấp, chỉ yêu cầu cưỡng chế cống nạp một ít vật phẩm để giúp quân mà thôi.

Thế nhưng, ở các nước lân cận như Lâm Ấp (Vương triều Champa) và Chân Lạp (Vương triều Khmer), nơi Tiểu thừa Phật giáo chiếm ưu thế, lại là một thái cực hoàn toàn khác. Tăng nhân ở những nơi đó là một tầng lớp và đoàn thể đặc quyền tự nhiên, chỉ cần khoác áo cà sa là đã được coi là bất khả xâm phạm, không phải nộp tô thuế, không phải đi phu dịch, quan lại không thể bắt giữ. Chùa chiền làm trung tâm tích lũy đất đai và nô tỳ, hưởng thụ mọi nguồn cung dưỡng vô hạn. Như nước Lâm Ấp chịu ảnh hưởng nặng nề từ phong tục Bà La Môn giáo ở Nam Thiên Trúc, từ quân vương đến người giàu có, từ quan lại đến dân thường, đều có truyền thống trực tiếp dâng cúng nữ tử cho chùa miếu, gọi là “Phật cúng”. Còn nước Chân Lạp thì càng điên rồ hơn: con gái nhà giàu từ 7 đến 9 tuổi, con gái nhà nghèo muộn nhất không quá 11 tuổi, nhất định phải để tăng nhân “khai thân” đồng trinh, gọi là “Trận Thảm”.

Vào ngày “Trận Thảm”, tối hôm đó, chủ nhà phải khua chiêng gõ trống đón tăng nhân về, để tăng nhân và cô gái ở chung cho đến bình minh mới rời đi. Sau đó, gia đình còn phải dùng vải vóc để chuộc thân cho cô gái; nếu không, cô gái sẽ phải cống hiến cả đời cho tăng nhân đó và không thể lấy chồng. Trước “Trận Thảm”, cô gái sống cùng cha mẹ, nhưng sau đó thì lại không còn bị ràng buộc bởi bất kỳ điều gì. (Theo ghi chép trong “Chân Lạp Phong Thổ Ký” đời sau).

Cho nên, sau khi đánh hạ những nơi này, Chu Hoài An đã thuận tay tiễn bọn chúng xuống A Tỳ Địa Ngục để trình diện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Sau đó, ông đưa các tăng nhân người Hán đến thay thế, cũng coi như là một cách khác để truyền bá đại pháp.

Truyện được biên tập bởi truyen.free, xin hãy trân trọng công sức của chúng tôi.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free