(Đã dịch) Đường Tàn - Chương 95: Ý nghĩ
Sau khi rời khỏi Thổ Phong Trại, đoàn quân dài dằng dặc vẫn tiếp tục uốn lượn. Phía sau họ, chỉ còn lại một bãi hoang tàn đổ nát, những căn nhà và sân viện tan hoang bị gió bão cùng mưa giăng kín.
Giữa đoàn quân lộn xộn kéo dài ấy, lão binh nghĩa quân Lý Nồi Nhi, người đang cõng một cái hồ lô lớn và vác đoản mâu, quay sang lải nhải với tên thiếu niên đang vác một bao đồ nặng phía sau.
"Này nhóc con, chú nói cho mày nghe, đừng có mà không tin... Từ ngày làm nghĩa quân, ngày nào cũng có cơm no, chẳng lo đói khát. Thỉnh thoảng còn có gạo, mì, cùng đồ ăn mặn nữa chứ. Nếu phá được trại, lại còn được chia thịt. Tuy rằng đôi lúc phải liều cả sức lực và mạng sống để đánh đổi một chút, nhưng dù sao vẫn tốt hơn nhiều việc ngồi chờ chết đói, có tương lai hơn hẳn chứ."
Nói đến đây, lão ta càng ra sức dụ dỗ: "Mà nói đến cái gia đình lão gia nhà mày, trên dưới già trẻ đều bị treo cổ lên tường, giãy giụa đến chết hết cả rồi. Ngay cả dê bò cũng hoặc là bị sung quân, hoặc là bị làm thịt ăn sạch. Mày cứ mãi ăn nhờ ở đậu, không theo nghĩa quân thì biết dựa vào đâu mà sống tiếp đây? Hay là học theo mấy người đàn bà ấy, bán sạch đồ trang sức rồi cặp kè với thằng nghèo rớt mồng tơi nào đó à? Cho nên, cứ theo chú đi, sau này chú sẽ đưa mày lên làm chỉ huy đội thiếu niên. Chỉ cần chú còn miếng ăn, thì mày sẽ không đói đâu."
Sau khi giải quyết xong Thổ Phong Trại, Chu Hoài An cùng đoàn quân của mình, vốn ��ã lớn mạnh hơn và thu được nhiều vật liệu, tiếp tục lên đường hướng tới mục tiêu kế tiếp.
Sau đó, Chu Hoài An cũng từ đó nảy ra thêm những ý tưởng mới. Ông bắt đầu tuyển chọn một số thanh niên trai tráng địa phương mới chiêu mộ, những người có tư tưởng linh hoạt và giọng hát tốt, rồi bảo họ ngay tại chỗ sáng tác các ca khúc mang đậm tiếng lóng và thổ ngữ địa phương. Nội dung chủ yếu của các bài hát là nhẹ nhàng lên án những khổ đau trong xã hội, phản kháng áp bức và vạch trần những điều đáng ghét. Đây được xem như một thử nghiệm tiên phong của nghĩa quân trong việc thực hiện tuyên truyền và tạo dựng dư luận.
Bởi vì trong bối cảnh giao thông và điều kiện truyền tin còn hết sức lạc hậu, dẫn đến sự cô lập về địa lý và vùng miền, chỉ những ca khúc dân dã dễ lưu truyền này mới là phương thức truyền bá và khuếch tán nhanh chóng, tiện lợi nhất. Trong khi đó, những kẻ nhà giàu ngang ngược, từ lâu đã thao túng dư luận và quyền lên tiếng ở địa phương, rất dễ dàng dùng lý do đoàn kết chống lại sự quấy nhiễu từ b��n ngoài và bảo vệ quê cha đất tổ, mà cưỡng ép, dụ dỗ, kích động, lôi kéo đông đảo dân thường và tài nguyên, khiến họ hoặc tự nguyện hoặc không tự nguyện gia nhập vào hàng ngũ đối kháng nghĩa quân và các tổ chức ngầm.
Trong tình huống như vậy, nếu dùng thân phận và góc nhìn của người địa phương để lên án và vạch trần những kẻ đó, kêu gọi mọi người đừng bị bọn ký sinh trùng và quỷ hút máu ấy mê hoặc, đồng thời chỉ ra con đường đúng đắn cùng những hiệu quả tương ứng, đó sẽ là một cục diện và hướng phát triển hoàn toàn khác. Mặc dù không thể hy vọng thực sự đánh thức và thúc đẩy được đại đa số dân chúng ở thời đại này, những người đã bị cuộc sống cực khổ qua bao đời hành hạ đến mức ngu dốt và mất hết cảm giác, nhưng chỉ cần trong một trăm người có một người vì thế mà động lòng, nảy sinh ý muốn gia nhập nghĩa quân, thì đó đã là hoàn toàn có lợi rồi.
Hơn nữa, nhìn về lâu dài, ngay cả khi tạm thời chưa có ai hưởng ứng hay nương tựa nghĩa quân, nhưng thông qua hình thức truyền bá ca khúc được tầng lớp nhân dân yêu thích này, sau một thời gian ủ mầm, cũng có thể tạo ra ảnh hưởng làm suy yếu và phân hóa các thế lực phản kháng ngầm cùng các cứ điểm cố thủ. Chẳng hạn, khi đối mặt với quân tiên phong của nghĩa quân, họ sẽ nghi ngờ lẫn nhau, thậm chí không dốc toàn lực chiến đấu, thậm chí còn dao động và bắt đầu so s��nh. Đây hoàn toàn là một thành quả khác biệt.
Dù sao đi nữa, tất cả những điều này đều là những thử nghiệm tích cực của tiểu đội tiên phong. Trong khi nghĩa quân chủ lực do Hoàng Sào dẫn đầu chính thức gặp phải trở ngại lớn và bắt đầu suy yếu, thì ít nhất cũng phải đến năm sau hoặc ba năm sau mới xảy ra chuyện đó. Vì vậy, Chu Hoài An vẫn còn một khoảng thời gian để hoàn thành những thử nghiệm xã hội mang tính cải cách trong chính đội quân nghĩa quân của mình.
Chẳng hạn, lợi dụng đội khảo sát tổng thể trong thời gian nghĩa quân lưu lại ngắn ngủi, để thu thập thông tin về chất lượng ruộng đất và tình hình sản xuất tài nguyên địa phương nói chung, cùng với các kỹ thuật và kinh nghiệm nông nghiệp tương ứng. Ngoài ra còn có một số giống cây đặc sắc địa phương, như loại lúa có thể sinh trưởng trong nước biển nhiễm mặn; loại lúa nương thấp bé có thể sống được ở những ruộng bậc thang trên đất đỏ dốc; hoặc các giống mía có thể cải tạo đất nhiễm mặn, cho ra rễ ngọt...
Nếu hỏi Chu Hoài An có thể làm gì sau khi nghĩa quân có được một vùng đất ổn định để tự do quản lý, thì ông ta sẽ cân nhắc mở rộng một khu ruộng thí nghiệm lớn, để thử nghiệm các loại cây trồng khác nhau.
Phải nói rằng, ở châu Phi, phần lớn đồng bào Trung Quốc đều có một thú vui chung khi rảnh rỗi, không nghi ngờ gì chính là việc đi đến đâu trồng rau đến đó, lập luống và dựng lều. Dù là lực lượng gìn giữ hòa bình từ trong nước, hay công nhân của các đơn vị xây dựng viện trợ, hoặc là các doanh nghiệp công nghiệp, khai thác mỏ và tổ chức xã hội thường trú, đều thích khai hoang một mảnh đất nhỏ gần nơi ở để gieo trồng gì đó, nhằm điều hòa và cải thiện cuộc sống hàng ngày.
Ngay cả những vùng đất mà trong mắt người bản địa là hoang vu, cằn cỗi, sỏi đá khô cằn, họ cũng có thể lợi dụng thời gian sau giờ làm việc để từng chút một cải tạo và cải thiện chất đất, dùng chai nhựa đục lỗ làm thành hệ thống tưới tiêu cực kỳ đơn giản, khiến cho vùng đất vốn đầy sỏi đá trở nên xanh tốt, cho ra rau củ quả theo mùa. Thậm chí còn có những ví dụ được lên báo khen ngợi vì thành tích này nữa là.
Trong cái thời loạn lạc, lo từng bữa ăn này, điều hữu dụng nhất và dễ thấy hiệu quả nhất, kỳ thực không phải là những "vũ khí tối thượng" mà những người "xuyên việt" thường dùng như luyện than cốc, sắt thép, xi măng, hóa chất, gương kính, mà là các kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến và kinh nghiệm canh tác đến từ đời sau. Mặc dù chu kỳ phát triển có thể hơi dài một chút, nhưng những gì mọc ra từ đất lại có thể dùng để cứu mạng và cứu đói.
Còn về một khía cạnh khác, cái mà những người yêu thích lịch sử quân sự hay gọi đùa là "Ban Tổ Chức 7 Bộ" với mục đích "cày ruộng chiến kênh", thì Chu Hoài An cũng từng đọc qua không ít tài liệu về nó. Ngay lập tức ông hồi tưởng và suy ngẫm, xem liệu có thể áp dụng vào thực tế hay không.
Chẳng hạn, hệ thống liên hợp lúa nước – cá – khí mêtan – cây ăn quả – gia súc/gia cầm, cái mà đời sau từng được phổ biến thành công ở vùng đồng bằng châu thổ sông Châu Giang. Tức là nuôi cá trong ruộng lúa, chăn nuôi gia súc/gia cầm dưới tán cây ăn quả; lợi dụng gia súc/gia cầm để tiêu diệt sâu bệnh trên ruộng lúa và cây ăn quả, đồng thời phân của chúng làm màu mỡ ruộng đất. Sau đó, thu gom phân gia súc/gia cầm để ủ phân và sản xuất khí mêtan. Chất thải từ khí mêtan được dùng nuôi cá, còn các sản phẩm phụ từ cây ăn quả được dùng làm thức ăn cho gia súc/gia cầm. Từ đó hình thành mô hình nông nghiệp sinh thái đa tầng: "Lấy nông dưỡng mục, lấy mục dưỡng trạch, lấy trạch dưỡng ngư, lấy ngư dưỡng đạo."
Có điều, về phương diện này, Chu Hoài An lại chỉ có lý thuyết suông mà không hề có kinh nghiệm thực hành cụ thể nào.
Cho nên, ở đây cần nhắc đến một nhân vật lịch sử quan trọng: Lưu Tuân, người từng giữ chức Quảng Châu Tư Mã vào cuối đời Đường. Ông đã ghi chép lại ba quyển sách, miêu tả tương đối tường tận về thổ sản, phong cảnh, tài nguyên của các vùng Lĩnh Nam, trong đó có đoạn liên quan đến:
"Các châu mới khai hoang, ruộng núi hoang vu, những vùng đất bằng phẳng thì dùng cày bừa, đốt cỏ khai phá thành điền thổ. Chờ đợi mưa xuân, trữ nước trong các sườn đồi, tức là trước đó đã mua trứng cá thả vào ruộng đã được đắp bờ ngăn nước. Một, hai năm sau, cá lớn lên, ăn hết cỏ dại và rễ cây, làm cho ruộng đất trở nên màu mỡ, vừa thu được lợi từ cá. Sau đó trồng lúa nước, mà không còn bị cỏ dại phá hoại. Đó chính là kỹ thuật giúp dân nghèo." Có thể nói đây là ghi chép chi tiết sớm nhất về mô hình canh tác lúa nước – cá tổng hợp trong lịch sử nông nghiệp Trung Quốc.
Mà vị quan này chính là người sống cùng thời đại đó, hơn nữa, sau khi về hưu cũng ngụ cư ở Quảng Châu cho đến cuối đời, được xem là một trong số ít quan lại hiếm hoi trong thời đại này vừa hiểu kỹ thuật, vừa biết cách sản xuất.
Còn mô hình canh tác thấp hơn một bậc, đó là tang điền – ao cá, thì ở Lĩnh Nam đã có từ sớm hơn một chút trong lịch sử, gần như đến thời Đông Hán đã có ghi chép về mô hình tương tự.
Địa hình Lĩnh Nam nhiều khúc khuỷu và bị chia cắt, núi non, đồi dốc, cao nguyên, bình nguyên đan xen, trong đó vùng núi khá nhiều, với đặc điểm đá phong phú, tính chất đa dạng, và địa hình phức t���p. Các con sông ở Lĩnh Nam phần lớn có lưu lượng lớn, lượng phù sa ít ỏi, lũ lụt định kỳ và dòng chảy dồi dào. Vì vậy, nền sản xuất nông nghiệp ở đây yếu kém và đơn điệu hơn nhiều so với các vùng đồng bằng sông nước trù phú ở khu vực Đông Nam.
Sau này, mô hình tang điền – ao cá đã rất phổ biến ở địa phương, chủ yếu là thông qua hệ thống tuần hoàn sinh thái "lá dâu nuôi tằm, phân tằm nuôi cá, bùn ao vun gốc dâu". Nhờ đó tiết kiệm đất đai, phân bón và thức ăn gia súc, đạt được hiệu quả sản xuất bổ trợ lẫn nhau, giúp "cá béo, dâu tươi tốt, tằm cho kén".
Tuy nhiên, dù có nhiều ý tưởng đến mấy, cuối cùng ông vẫn cần một địa bàn ổn định cùng diện tích đất đai đầy đủ để tiến hành các mô hình thử nghiệm đa dạng và so sánh thực tế, từ đó mới tìm ra được phương án tối ưu, phù hợp với điều kiện địa phương và có chi phí hiệu quả nhất.
Với vô vàn ý tưởng và suy nghĩ, Chu Hoài An cùng đoàn quân của mình thẳng tiến theo hướng đông bắc, băng qua những thôn trại đổ nát, tiến thẳng ra bờ biển.
Thừa thắng xông lên, lợi dụng lúc thủy triều rút để dùng cỏ bó và cành cây lót đường, Chu Hoài An và nghĩa quân đã phá vỡ sự kiểm soát và chiếm giữ của một băng nhóm ngang ngược, ngư bá đầu sỏ, tại mười mấy làng chài – hang ổ của chúng nằm trong những cánh rừng ổ, được bao quanh bởi các gò núi, vịnh và những bãi bùn lớn khi thủy triều rút. Ngay lập tức, họ thu được hàng trăm nghìn cân cá khô và cá tươi đánh bắt được, hơn mười chiếc thuyền lớn nhỏ cả ở gần bờ và trong nội hà, cùng hơn trăm thạch muối hột; cuối cùng còn có hơn một trăm ngư dân thạo nghề chèo thuyền gia nhập.
Dưới sự dẫn đường của những ngư dân tự xưng là thổ địa, họ men theo đường ven biển từ từ xuôi nam, đánh đâu thắng đó không gì cản nổi, liên tiếp công phá vài hương trại và cứ điểm; cuối cùng cũng gặp được đội kỵ binh trinh sát của một cánh nghĩa quân khác.
Hơn nửa tháng trôi qua, tiết trời đã dần chuyển mát. Đội quân của Chu Hoài An, vốn đã bôn ba đi một vòng lớn, cuối cùng cũng đã đến châu thành, thành Thủy Triều Dương.
Ngay tại chân thành huyện Thủy Triều Dương, nơi đã bị bao vây suốt mấy ngày, đã tập trung nhiều đạo quân mã, tạo thành một thế trận hùng mạnh. Đặc biệt là phân doanh do Vương Bàn chỉ huy, đã lớn mạnh lên rất nhiều, đạt tới ba, bốn nghìn người. Cộng thêm các đội quân khác từ mọi ngả đường đổ về, nhất thời tạo nên một cảnh tượng hỗn loạn với tiếng người huyên náo ồn ào.
Nghe nói, cánh quân chủ lực của Vương Bàn, trước khi đến thành Thủy Triều Dương, đã giao chiến lớn nhỏ vài lần với quan quân và đoàn quân địa chủ ra đón đánh. Với chiến thắng nhiều hơn thất bại, họ đã nhiều lần đánh tan và đánh bại đối phương, khiến chúng không thể không tháo chạy về châu thành để tự bảo toàn lực lượng còn sót lại.
So sánh với đó, do yêu cầu thà ít còn hơn bừa của Chu Hoài An, phân doanh của ông tuy đã gia tăng gần một nửa nhân viên chiến đấu, nhưng lại kéo theo một đống gánh nặng, nên có vẻ hơi kém cạnh, khó tránh khỏi sự tầm thường. Có điều, dù là Vương Bàn ở trung doanh, Lữ Đầu ở tả doanh, hay Chu Ngang ở tiền doanh, tất cả đều tỏ ra thờ ơ, coi đó là điều đương nhiên.
Toàn bộ nội dung truyện này đều được truyen.free bảo h��� bản quyền.