Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Họa Tiên - Chương 31:

Tin đồn Sử Tư Minh làm điều ô uế với vợ và con gái An Lộc Sơn âm thầm lan truyền khắp quân.

Cuộc nổi loạn kéo dài vốn đã khiến quân An chao đảo, giờ đây càng có nguy cơ tan rã.

Cùng năm, quân Đường giành lại Trường An. An Khánh Tự thất bại, dẫn theo hơn một ngàn ba trăm binh mã còn sót lại rút từ Lạc Dương về Nghiệp Thành.

Chẳng bao lâu sau, nhận thấy mối quan hệ v��i quân An sắp đổ vỡ, Sử Tư Minh bắt giam sứ giả của An Khánh Tự, dẫn hơn tám vạn binh lính cùng mười ba quận đầu hàng nhà Đường.

Thiên Tử mừng rỡ, phong ông ta làm Tiết độ sứ Phạm Dương.

Nhưng Dật Sơ nhận định ông ta có thể tiếp tục phản bội, yêu cầu triều đình không được lơi là cảnh giác.

Phát hiện ông ta vẫn chiêu binh mãi mã, Thiên Tử càng thêm cảnh giác, tính toán tìm người trừ khử.

Dẫu sao Thiên Tử còn trẻ tuổi, làm việc hấp tấp, không giữ được bí mật. Sử Tư Minh phát giác kế hoạch của triều đình, lại làm phản lần thứ hai, dẫn mười ba vạn quân xuôi Nam tiến về Nghiệp Thành.

Vừa đứng ngoài quan sát, hắn vừa ra mặt ủng hộ An Khánh Tự, đồng thời chặn đường tiếp tế lương thảo của quân Đường.

Quân Đường đã vây hãm An Khánh Tự suốt bốn tháng trời. Thấy Sử Tư Minh kéo quân đến tiếp viện, triều đình dứt khoát dốc toàn lực, điều mười sáu vạn đại quân tiến về Nghiệp Thành, quyết tử chiến một phen với phản quân An - Sử.

Thiên Tử bổ nhiệm Dật Sơ làm Trung Thư môn hạ Bình Chương sự, Hi Lam làm ph��� tá trong quân, dẫn mười vạn quân đến trợ giúp Quách Tử Nghi.

Tối ngày thứ ba sau khi xuất quân, giữa rừng sâu núi thẳm, tiếng sáo Khương ai oán cất lên, khiến nỗi buồn biệt ly vang vọng khắp đêm.

Hi Lam nằm trong quân doanh trằn trọc không ngủ được. Nghe tiếng sáo, nàng lập tức xuống giường, bước ra ngoài. Đêm trăng đẹp đến lạ lùng, tựa như có ai đó vô tình vẽ nên.

Trăng sao rải đầy trời trên núi non trùng điệp. Dưới mặt nước, một chấm sáng nhỏ đang lấp lánh, một chiếc thuyền lá nhẹ nhàng trôi, lung linh tựa ngọc lưu ly. Trên đầu thuyền, một người đang nằm một mình.

Thấy chiếc y bào quen thuộc, lòng Hi Lam dâng trào niềm mong chờ vô hạn. Nàng nâng vạt váy, rón rén bước đến gần.

Tay nàng vừa chạm vào mũi thuyền thì người kia cất tiếng: "Vừa rồi ta còn nghĩ, đêm nay đẹp quá, trời nước hòa làm một màu, như thể vầng trăng non vừa ló dạng. Chẳng hay người trong tim ta đang mơ điều gì, có hẹn gặp ai trong mộng không... Thế mà chỉ trong chớp mắt, nàng đã xuất hiện rồi."

Hi Lam không hề hay biết, trên môi mình đã nở một nụ c��ời ngọt ngào, mãn nguyện.

Nàng thầm nghĩ, họ vừa mới lưu luyến chia tay trước khi trời tối. Giờ đây, khi lại trông thấy hắn, nàng vẫn có cảm giác hạnh phúc như tiểu biệt thắng tân hôn. Chẳng phải nàng từng bị hắn nói "xa cây nào có còn dây trưởng thành" sao? Không ngờ hắn cũng chẳng khác gì.

Chiếc y bào màu tím của hắn buông hờ trên đầu thuyền. Nàng không chút kiêng dè bước đến, vén vạt áo choàng của hắn rồi ngồi xuống cạnh bên: "Bên ngoài lạnh lẽo thế này, Hình Thiếu sư lại vì trăng đẹp mà nằm một mình nơi đầu sông. Thật phong nhã."

"Đây là 'phu xướng phụ tùy' cả, ta bị lây thói xấu của ai đó rồi. Vốn dĩ ta đâu có như vậy." Dật Sơ quay đầu lại, khẽ mỉm cười.

Sống mũi hắn bị ánh trăng và bóng tối chia làm hai. Đôi đồng tử xanh biếc vừa vặn hướng về vầng trăng trong vắt trên trời, ngập tràn ánh sáng rực rỡ.

Đây là gương mặt Hi Lam quen thuộc, là nụ cười nàng luôn hoài niệm.

Ánh sáng sóng nước dập dềnh trên người họ khiến lòng nàng không khỏi rung động. Vốn nàng định đùa hắn vài câu, nhưng hắn đã cất tiếng cười nói trước: "Lam Lam của chúng ta đẹp tựa bức tranh, tiếc là hơi ngốc một chút."

"Lời phía trước ta đã nghe rồi, không dám, không dám đâu. Phu quân của ta mới là tiên nhân trong tranh." Nói đoạn, nàng nở nụ cười ranh mãnh: "Chúng ta vẫn nên tâm sự về chuyện người thiếp yêu dấu và con gái yêu của chàng trước đi."

Dật Sơ thoáng trầm mặc, rồi nói: "Khi ta biết đại nạn của mình sắp đến, ta đã sắp xếp cho Tấn Điệp tái giá với Thiên Hạc tiên quân. Nhưng nàng ấy không đồng ý, một mình nuôi con gái đến sáu trăm tuổi rồi mới gả cho một vị linh tiên. Đó là chuyện của khoảng hai trăm năm trước."

Thật ra Hi Lam chỉ muốn đùa hắn, nhưng nàng đã quên rằng thời gian trôi như nước chảy, kể từ khi nàng tiến vào luân hồi đã gần một ngàn năm.

Nàng khẽ cảm thán: "Tấn Điệp thật sự si tình với chàng. Hy vọng sau này nàng ấy có thể tìm được một người toàn tâm toàn ý, bên nhau đến già không chia lìa."

Dật Sơ chầm chậm nói: "Hi Lam, đôi lúc ta thật sự rất hận sự thoải mái của nàng."

Dật Sơ luôn là người phản ứng nhanh nhạy, cho dù là chuyện khó khăn đến mấy, hắn cũng có thể nhanh chóng đưa ra đáp án tốt nhất.

Lần này hắn lại chậm chạp như vậy, không biết trong một câu hàm chứa biết bao nhiêu ý tứ.

Hi Lam hiểu hắn đang đau lòng điều gì, cũng không nỡ trêu chọc hắn nữa, chỉ nhẹ nhàng giơ tay đặt lên lưng hắn: "Chàng biết là ta cũng chẳng hề thoải mái. Nhưng, ta lại không hề mâu thuẫn."

Tay Dật Sơ khẽ cứng lại, trong mắt lộ rõ sự xúc động. Ngay sau đó, hắn ôm nàng vào lòng, giam nàng trong vòng tay mình.

Cho dù nàng có oán trách rằng bị ghì đến nghẹt thở, hắn cũng chẳng có ý định buông tay.

Đêm nay, ký ức mấy ngàn năm mạnh mẽ ùa vào tâm trí hắn lần thứ hai.

Hắn còn nhớ rõ, lần đầu tiên dùng thân thể thần tiên gặp gỡ nàng, ánh mắt nàng nhìn hắn dù ngập tràn sự bướng bỉnh nhưng lại trong sáng đến lạ, khiến hắn không hiểu sao lại có xúc động muốn bảo vệ nàng.

Suốt quá trình hai người quen biết, mỗi một khắc ở bên nàng, cảm xúc này lại gia tăng thêm một chút, từ khoảnh khắc ngắn ngủi trở nên lâu bền, cuối cùng hóa thành một đời, một kiếp, vĩnh viễn.

Đến cuối cùng, thậm chí hắn còn cảm thấy, Hi Lam có không yêu hắn cũng chẳng sao. Chỉ cần nàng hạnh phúc, người khiến nàng hạnh phúc có phải là hắn hay không cũng không còn quan trọng.

Hi Lam rúc vào lòng hắn, hơi trẻ con hỏi: "Dật Sơ, chàng nói thử xem, yêu một người quá nhiều có phải sẽ rất mệt mỏi kh��ng?"

Nghe câu này, hắn giật mình, rồi thản nhiên cười: "Phải."

"Có phải thường xuyên cảm thấy bất lực, cảm thấy bản thân vô dụng, chuyện gì cũng làm không tốt phải không?"

"Đúng."

"Có phải dù hy sinh bản thân cũng muốn người kia vui vẻ phải không?"

"Đúng."

"Thì ra ta vẫn biết yêu một người..."

"Ta sai rồi." Hắn cúi đầu hôn nàng, chặn lời nàng nói.

Chỉ là, những lời nàng nói như những thanh đao nhọn, từng chút một cứa vào trái tim hắn.

Dù hôn bao lâu cũng không thể xoa dịu.

Hắn nghĩ, có lẽ mãi mãi cũng không thể hết đau được.

Ngày mồng sáu tháng Ba năm Càn Nguyên thứ hai*, sáu mươi vạn quân Đường bày trận ở An Dương, Hà Bắc. Vừa giao chiến với năm vạn tinh binh của Sử Tư Minh chưa đầy nửa ngày, quân của Dật Sơ và Quách Tử Nghi đã từ hai phía Nam – Bắc kéo đến, tạo thành thế gọng kìm.

Quân lính chưa kịp bày trận, bỗng nhiên mây đen ùn ùn kéo đến, bão lớn nổi lên. Trên bầu trời tháng Ba, sương tuyết và mưa đá trút xuống, khiến một nửa binh sĩ trên chiến trường kinh hoàng chạy tán loạn.

Ngay sau đó, một nam tử toàn thân mặc y bào đen thêu vân đỏ từ trên trời giáng xuống.

Mái tóc đỏ tung bay, trong tay hắn nâng một vầng sáng đỏ rực. Cuộn xương răng di chuyển lên xuống trong vầng sáng đó.

Cảm nhận được sát khí từ Ma giới phát ra từ người này, ngựa của hai quân đều kinh hoàng hí vang, thoát cương chạy tán loạn, hất ngã chết mấy ngàn người.

*Càn Nguyên: Niên hiệu thời vua Đường Túc Tông Lý Hanh từ 758-760

Dật Sơ thúc ngựa tiến lên, ngăn cản đường đi của tên Ma tộc kia.

Tên Ma tộc kia cười nói: "Thái Vi tiên tôn, ta thật sự đã đánh giá thấp ngươi rồi. Lẽ ra lần trước ta nên tự tay giải quyết ngươi, nếu không làm gì có cục diện hôm nay. Chẳng qua bây giờ cũng không muộn, hôm nay tất cả các ngươi đều phải chết!"

Dật Sơ nói: "Hàm Hư, ngươi đừng quên quy củ chiến trường sau khi Nữ Oa vá trời. Thần, Tiên, Ma tộc không được sử dụng lực lượng thần giới trong chiến tranh Cửu Châu. Ngươi thân là Tả Doãn của Ma giới, nếu tự tiện vi phạm khế ước thì phải tự gánh lấy hậu quả."

"Kẻ muốn phá bỏ khế ước không phải là ta, mà là tôn thượng của bọn ta."

"...!Tử Tu?"

"Tôn thượng nói, hắn vẫn thích đại chiến diệt thế, chẳng có tâm trạng đánh lớn đánh bé với các ngươi." Hàm Hư cười, nâng tay thi pháp. Mây đen như đá trên trời cao, sấm sét chói lòa, tiếng sấm, tiếng gầm rú vang vọng khắp Cửu Châu. "Hãy dùng máu tươi của sáu mươi vạn người Đường ngu dốt và năm vạn kẻ phản bội để hiến tế, mở màn đại chiến Thần - Ma một lần nữa."

Sử Tư Minh từ trong quân chạy tới, chạy vội đến mức té cứt té đái, rồi xoay người xuống ngựa, quỳ xuống đất nói: "Tả Doãn, Tả Doãn, ngài không nhớ ta sao? Ta là Sử Tư Minh, ta vẫn luôn trợ giúp Ma giới! Ngài giết quân Đường cũng được, nhưng tuyệt đối không được giết ta!"

Hàm Hư cười khẩy nói: "Ma giới còn cần tên tạp chủng như ngươi hỗ trợ sao? Dùng ngươi để tiêu khiển mà ngươi còn tưởng thật. Kẻ bán chủ cầu vinh, cái loại cẩu tạp chủng hai mặt như ngươi, giết còn ngại bẩn tay. Cút!"

Sử Tư Minh không dám nói thêm lời nào, lần thứ hai chạy té cứt té đái về trong quân.

Giờ khắc này, d�� quân đội hai bên đã tháo chạy xa mấy chục dặm, nhưng cũng không thể bì được với tốc độ lan rộng của đám mây đen trên đỉnh đầu.

Hàm Hư ngước nhìn trời một cái: "Vĩnh biệt, Trường An. Vĩnh biệt, sao Đế Vương. Thời điểm Ma giới chiếm lĩnh Trung Nguyên đã đến rồi."

Thấy hắn sắp thi pháp, bỗng nhiên một luồng sáng xanh biếc từ mặt đất phóng ra, bay thẳng về phía Hàm Hư.

Hi Lam bàng hoàng hô to: "Đừng! Dật Sơ!!"

Nhưng đã không kịp nữa rồi.

Hàm Hư né tránh sang một bên nhưng vẫn bị luồng sáng đó đánh trúng ngực phải.

Chỉ trong một thoáng, trời long đất lở, những vì sao rơi rụng đầy trời.

Hàm Hư ôm ngực, ho khan hai tiếng: "Thái Vi tiên tôn, ngươi..."

Giọng Dật Sơ lạnh lùng vang vọng không trung: "Cút về Ma giới, nói cho Tử Tu bảo hắn thu tay lại, nếu không sông An Dương sẽ là nơi chôn thây của ngươi."

Luồng sáng xanh biếc đó lần thứ hai lao vào ngực trái Hàm Hư. Lại thấy biển tuyết cuồn cuộn, Âm Sơn chấn động, Hàm Hư ho ra một búng máu ngay tại chỗ: "Ngươi...! Ngươi thật sự điên rồi...! khụ khụ, thật sự là...! không muốn sống nữa..." Dật Sơ không trả lời nữa, chỉ tiếp tục tấn công Hàm Hư, khiến hắn có trốn cũng không thể tránh khỏi.

Ban đầu trái tim Hi Lam đập điên cuồng trong lồng ngực, sau đó lại như ngừng đập, nàng chỉ tuyệt vọng nhìn họ.

Nàng rất muốn hỏi: "Dật Sơ, chẳng lẽ không còn cách nào khác sao? Chàng như vậy là muốn vĩnh biệt ta sao...?" Nhưng cuối cùng nàng không nói gì cả. Nàng không thể khiến hắn phân tâm, nàng biết, nếu không phải vạn bất đắc dĩ, Dật Sơ sẽ không làm như vậy.

Mấy lần công kích liên tục, chỉ thấy trời đất biến sắc. Dật Sơ hao hết tiên lực, dường như có ý định đồng quy vu tận với Hàm Hư.

Hàm Hư bị công kích đến mức lùi về sau một bước, không ngừng khạc ra máu: "Thái Vi tiên tôn, ngươi chính là kẻ điên..." Dường như hắn ta không cam lòng, nhưng vì trọng thương, cuối cùng đành vung tay áo, biến mất trong một tia chớp.

Một lúc sau, sấm chớp ngừng. Quầng sáng xanh biếc theo đó mà khuếch đại khắp bầu trời, chói mắt đến mức khiến người ta không thể mở mắt ra được, rồi tan biến vào trong đám mây đen.

Đám mây đen cuồn cuộn đã lâu nhưng vẫn không biến mất, trút những hạt mưa lành xuống Cửu Châu đại địa, gột rửa bụi bẩn vương trên kỵ binh, xối qua mảnh đất thấm đẫm máu rồi ngấm vào lòng đất, núi rừng và sông An Dương.

Quân Sử Tư Minh rút lui về giữ Nghiệp Thành. Còn quân Đường cũng lùi hết về phía Nam, giữ vững những thành trấn vốn có.

Hi Lam dẫn đoàn quân Dật Sơ để lại, cùng Quách Tử Nghi hành quân về Hà Dương.

Đúng mùa hoa mai xanh biếc, hoa rơi mưa gió, xuân sắp tàn*.

Mặt trời sắp hết một vòng tuần hoàn, tiếng nhạn đơn côi phiêu đãng nơi chân trời, mái chèo đơn bạc lững lờ trôi trên sông An Dương.

Hi Lam và Quách Tử Nghi đi song song trong ráng chiều, hai người rất lâu không lên tiếng. Cuối cùng, vẫn là Hi Lam mở lời trước: "Thật xin lỗi."

*Trích trong bài Hoán Khê Sa của Yến Thù, dùng để chỉ trong cuộc đời ngắn ngủi, đau thương triền miên không dứt, hôm nay có rượu uống thì hôm nay say, hôm nay có ca thì nên nghe hết, người tưởng niệm nơi xa liệu có thể từ xa quay về hay không, hoa rơi trong mưa gió, cảnh xuân chẳng còn lại bao lâu, sao không cố gắng tận hưởng cảnh trước mắt.

Quách Tử Nghi nhìn về phía trước, thản nhiên cười đáp: "Không sao. Ta biết trong lòng nàng đã có người khác rồi."

"Thật không ngờ Quách Thượng Thư lại là người có tâm tư nhạy bén đến vậy."

Quách Tử Nghi nói: "Ta là người luyện võ, tâm tư nào có nhạy bén. Ta "nhìn" ra là đằng khác. Lần đầu nàng dùng kế hãm hại ta ở cung Đại Minh, cứ liên tục tiến tới, cho đến khi ép ta rơi xuống hồ. Nhưng sau khi gặp lại ở Linh Vũ, ta gọi nàng là "Lam nhi", nàng lại lùi hai bước."

Hắn là người hành quân suốt năm, một thân một mình, việc lãnh binh, sách lược mọi thứ đều tinh thông. Chỉ cần một thay đổi rất nhỏ trong lời nói, hành động của một người cũng đủ gợi lên sự cảnh giác của hắn.

Hi Lam cũng cười, không đáp lời.

Hai người vẫn lặng lẽ bước đến cầu Hà Dương.

Sau khi sắp xếp quân doanh, Quách Tử Nghi bắt đầu chấn chỉnh binh sĩ.

Hi Lam xuống ngựa, dẫn ngựa đến bờ sông uống nước. Nhưng nàng lại nghe thấy một giọng nói truyền đến từ phía sau: "Lam Lam."

Lưng Hi Lam bỗng thẳng tắp, từ từ xoay người.

Mắt nàng nhìn thấy mặt trời phía Tây vàng rực, ráng mây đỏ kéo về, dòng sông lẻ loi kéo dài ngàn dặm, chim bay không đến thành Trường An.

Bóng dáng gần như trong suốt của Dật Sơ hiện ra bên bờ sông, tựa như một bức tranh thủy mặc chưa khô mực, lại giống những đóa hoa dưới ngòi bút của Bắc Lạc tiên tử.

Hi Lam siết chặt dây cương, không dám có chút động tác thừa thãi nào: "Chàng đến nói lời từ biệt với ta sao?"

Dật Sơ bất đắc dĩ cười: "Nếu không đi, ta sợ sẽ tan biến hoàn toàn. Ta phải về Tiên giới trước, cố gắng tìm cách để sống đã."

Hi Lam không biết phải đáp lại ra sao.

Dật Sơ lúc này vốn dĩ chỉ là ảo ảnh. Nhưng bởi vì sức mạnh của Thái Vi tiên tôn vô cùng cường đại, cho dù chỉ có một phần mười cũng mạnh hơn những Tiên tộc thông thường.

Cộng thêm ý chí bản thân hắn vô cùng mạnh mẽ mới có thể đánh lui Hàm Hư.

Chỉ là, hiện tại hắn đã mất toàn bộ sức lực, sắp tan thành mây khói, làm sao có thể trở lại thành Dật Sơ của trước đây chứ?

"Ta biết nàng cảm thấy suy nghĩ của ta rất hoang đường, nhưng không phải nàng muốn ta không được bỏ cuộc sao?" Dật Sơ bước lên hai bước, duỗi tay "vuốt ve" mặt Hi Lam một chút: "Chừng nào chưa đến thời khắc cuối cùng, ta sẽ không từ bỏ. Chỉ cần có thể sống sót, ta nhất định sẽ quay lại tìm nàng, tiếp tục nối duyên tiền định."

Hi Lam cố nén nước mắt, dùng sức gật đầu: "Được."

"Nàng chờ ta hai năm. Nếu hai năm ta không quay về, nàng cứ gả cho người khác đi."

"Dựa trên tình cảm phu thê chúng ta, ta chờ chàng ba năm." Hi Lam rưng rưng nước mắt, cười nói: "Đồng ý với ta, phải cố gắng hết sức."

Dật Sơ khẽ cười, đáp: "Lời thề kết tóc, không phụ không quên."

Tà dương rải đầy đất, sông dài ngựa no nước. Dù núi sông vẫn như cũ nhưng thế sự đã đổi thay.

Ánh chiều xuyên qua cơ thể Dật Sơ. Hắn khẽ mỉm cười với nàng, nhưng bóng dáng càng lúc càng mờ nhạt, ngay cả lúm đồng tiền nàng đã quen thuộc hàng ngàn năm kia cũng càng lúc càng trong suốt.

Cuối cùng, nơi đây không còn hình bóng người trong mộng của nàng, chỉ còn những tia nắng đậu lại trên tường thành cô độc và hai bờ sông hoa nở ngút ngàn.

Sau trận chiến Nghiệp Thành, quân Sử Tư Minh quay về Phạm Dương. Khí thế quân An Khánh Tự suy giảm, đối với Sử Tư Minh thì lúc nhún nhường, lúc lại kiêu ngạo, và hấp tấp đồng ý lời mời của Sử Tư Minh, dẫn thêm bốn vị huynh đệ cùng thuộc hạ đến Phạm Dương hội kiến. Kết quả, tất cả đều bị giết sạch không còn một ai.

Tiêu diệt được mối họa trong lòng, Sử Tư Minh cảm thấy con đường quan lộ của mình rộng mở vô cùng, liền tự lập làm Hoàng đế Đại Yên. Ông ta phong thêm một đống Hậu phi, đồng thời cho người và mật thám tung tin đồn rằng phản quân muốn quay về quê, nhưng vẫn quyết chiến với quân Đường.

Thiên Tử nhà Đường ngốc nghếch khờ khạo, để Lý Quang Bật dù lòng không cam tình không nguyện vẫn phải ra nghênh chiến, khiến quân Đường lại đại bại lần thứ hai.

Thấy mảnh đất quân sự trọng yếu của giang sơn sắp rơi vào tay phản quân, Sử Tư Minh lại tự gây chướng ngại cho mình.

Năm Thượng Nguyên thứ hai, Sử Tư Minh ra lệnh cho con trai mình là Sử Triều Nghĩa xây thành trúc để dự trữ binh lương, nhằm tiến đánh quân Đường tại Khương Tử Bản.

Sử Triều Nghĩa luôn làm việc hấp tấp, quên trét bùn cho tường thành.

Sử Tư Minh thấy vậy thì nổi giận, muốn lập lại uy nghiêm quân đội, tính lôi Sử Triều Nghĩa ra chém đầu thị chúng.

Sử Triều Nghĩa sợ đến tái mặt, quỳ xuống lạy đến vỡ cả đầu.

Sử Tư Minh buông lời tàn nhẫn rằng, đánh hạ Thiểm Châu xong sẽ chém cái răng nanh của hắn.

Mật thám đưa tin này về quân Đường.

Hi Lam thấy vậy cảm thấy vô cùng quen thuộc, nghĩ rằng màn kịch của hai cha con họ Sử này khá tương đồng với chuyện ân oán tình thù giữa Viên Thiệu (1) và Hứa Du (2).

Vì vậy, vào đêm không trăng không sao, nàng cùng Hà Thái phái mật thám cải trang, lẻn vào trận doanh quân địch. Họ nói chuyện với Sử Triều Nghĩa suốt hai canh giờ, tâng bốc rằng trên trán hắn có Nhật Giác (3), là tướng đế vương, đồng thời vạch ra một kế sách giúp hắn có thể xưng đế.

Sử Triều Nghĩa quát: "Bọn chuột nhắt! Sử Triều Nghĩa ta làm con thì chết vì hiếu, làm thần thì chết vì trung, sao có thể nghe những lời thêu dệt của các ngươi, noi theo An Khánh Tự mà mưu đồ làm loạn, có ý nghĩ chiếm quyền chứ!" Sau đó hắn chém Sử Tư Minh, dùng thảm nỉ bọc thi thể, lén lút chuyển về Lạc Dương.

(1) Viên Thiệu (154 - 202), tự Bản Sơ, là tướng lĩnh Đông Hán và quân phiệt thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.

(2) Hứa Du (153 - 208) là một mưu sĩ thân tín của Viên Thiệu cuối thời Đông Hán.

Hứa Du và các mưu sĩ khác của Viên Thiệu là Điền Phong, Quách Đồ và Thẩm Phối tuy là bên ngoài là bằng mặt nhưng không hề bằng lòng, ngược lại họ luôn tìm cách hạ bệ đối phương để giành lấy sự tín nhiệm của Viên Thiệu.

Bản chất của Hứa Du là một con người rất tham lam.

(3) Nhật Giác: Theo nhân tướng học đó là phần nhô lên của xương trán, trong lịch sử dùng để miêu tả một người có tướng Đế Vương.

Điều này chứng minh lịch sử luôn lặp lại: kẻ xấu muốn thành công thì phải đọc sách nhiều vào.

Thực ra Sử Triều Nghĩa hung ác hơn Hứa Du nhiều, nhưng lại bị người ta mượn đao giết người, chứng t��� đầu óc cũng chẳng phải hạng khá giả gì.

Năm Bảo Ứng (1) đầu tiên, tân Hoàng Đại Đường kế vị, phái dũng sĩ Sóc Phương* người Hồi Hột tài năng xuất chúng xuất chinh về phía Bắc. Họ chiếm lại Lạc Dương, khiến Sử Triều Nghĩa trốn chui trốn nhủi như chó như chuột khắp bản đồ Hoa Hạ.

Mùa xuân năm thứ hai, Sử Triều Nghĩa chạy trốn về Phạm Dương. Thuộc hạ của hắn đều giương cờ đầu hàng, hắn cùng đường, tìm một gốc cây hòe cổ thụ trong rừng ngoài thành Phạm Dương, thắt cổ, hai chân buông thõng, kết thúc bảy năm hai tháng loạn An - Sử. (1) Bảo Ứng: Niên hiệu thời vua Đường Túc Tông Lý Hanh và Đường Đại Tông Lý Dự (4/762—6/763)

(2) Chỗ này đang nói đến Bộc Cố Hoài Ân, ông từng là Tiết độ sứ Sóc Phương.

Giành lại Kế Bắc, triều đình khao thưởng ba quân, trọng thưởng cho các binh tướng.

Từ trên xuống dưới, cả nước hô vang dậy trời.

Đỗ Phủ, đại diện cho những người dân Đường phiêu bạt khắp nơi, phát biểu cảm nghĩ sau chiến tranh: "Vừa nghe nước mắt tràn vạt áo" (1), "Thi thư phấp phới mừng muốn điên" (1), rồi đưa vợ đi xuyên qua Vu Hiệp (2), trở về Lạc Dương.

Hi Lam cũng cùng người nhà trở về Trường An. Dọc đường, nàng luôn mỉm cười, bước đi như đạp mây, lâng lâng tựa dáng vẻ của Thích Ca Mâu Ni.

(1) Trích trong bài “Nghe quan quân thu Hà Nam Hà Bắc” của Đỗ Phủ.

(2) Vu Hiệp: Hẻm núi nơi có sông nằm giữa hai ngọn núi.

Là một trong Trường Giang tam hiệp.

Chiến tranh chấm dứt thật sự nhẹ nhõm, nhưng giải quyết những chuyện hậu chiến thì không hề sung sướng như vậy.

Ví dụ như Hà Thái, tội dám hóa thành nguyên hình trước khi thời hạn thi hành án kết thúc đã bị Tiên giới ghi nhớ. Thế nên, hắn cam chịu đến cực Tây Tiên giới nhận phạt, chỉ mong sau này xuống Hoàng Tuyền, bước lên cầu Nại Hà, có thể gặp lại A Ni Man.

Sau khi trở về Trường An, Hi Lam phát hiện, trước kia các vương tôn công tử cưỡi ngựa trên đường, những người cố tình chạm vào ngựa thường là các nương tử thẹn thùng, nếu không tên Hạ Tử Vi thì cũng là Thu Hải Đường. Nhưng giờ đây, người chạm vào ngựa lại là các cụ già. Nếu không bại liệt thì cũng bệnh tật tàn phế, không để lại mấy trăm quan tiền thì nhất quyết không chịu đứng lên.

Vì không muốn nảy sinh ân oán với các cụ, các vương tôn công tử đều đổi hết các loại ngựa nổi tiếng như Tử Lưu, Đại Uyên*, tháo bỏ yên vàng cương ngọc, chỉ ước có thể cưỡi lừa đi trên đường. Những cửa tiệm liên quan như tiệm y phục, giày dép, lụa là, quán trà, quán rượu cũng bị ảnh hưởng nặng nề đến việc kinh doanh.

Dần dần, những thứ "Hồ khí" ở Trường An cũng vơi đi rất nhiều.

*Tử Lưu: Tên một loại ngựa đẹp thời Đường.

Đại Uyên: Ngựa nhập từ Tây Vực

Một trong những nguyên nhân chủ yếu tạo nên hiện tượng này là giá cả hàng hóa ở Trường An bị điều chỉnh rất lớn. Ngay cả giá muối năm Thiên Bảo mười tiền một đấu cũng tăng vọt lên hơn hai trăm tiền một đấu, thuế má cũng cao đến mức đáng sợ.

Ngoài việc ăn muối phải nộp thuế muối, uống trà phải nộp thuế trà, ngay cả uống rượu cũng bị giới hạn, lại còn phải nộp thuế rượu.

Những loại thuế kỳ lạ xuất hiện như măng mọc sau mưa xuân, khiến dân chúng cảm thấy áp lực nặng như núi.

Người ta sợ rằng sau này kính rượu sẽ phải nộp thuế rót, ăn cơm phải nộp thuế cơm, ngồi nhà xí cũng phải nộp thuế vệ sinh, người chết phải đóng thuế tang, đồ tang cũng phải chia thuế, kết giao bạn bè cũng phải nộp thuế giao hữu, thuế bạn bè còn phải chia ra thuế bạn thân và thuế giao lưu, ngáp một cái cũng phải nộp thuế ngáp, vươn người cũng phải nộp thuế duỗi, trời sáng phải nộp thuế ban ngày, trời tối thì phải đóng thuế sớm mai...! Tất cả đều vô cùng hài hước.

Chế độ thuế này dây dưa vài thập niên, chỉ càng thêm khắc nghiệt chứ không hề nới lỏng.

Nói cách khác, sau khi Liễu Tông Nguyên* bị biếm đến Vĩnh Châu làm Tư Mã, ông đã gặp một chuyện rất thần kỳ.

Bởi vì triều đình cần một loại rắn độc làm thuốc. Nếu có người có thể giao được thuốc này thì có thể được miễn thuế, nhưng cũng có thể bị rắn độc cắn chết.

Liễu Tông Nguyên nghe xong vô cùng tức giận. Người bắt rắn lại nói: "Ta như vậy cũng tốt, còn hơn là phải nộp thuế và đói chết.

"Những thôn dân chúng ta vì nộp thuế đã chết hết rồi."

Vì vậy, Liễu Tông Nguyên sinh nghi ngờ về năng lực của bản thân. Dù là một nhà thơ lớn, ông vẫn không tìm được từ ngữ nào có thể bác bỏ lời người bắt rắn, đành để lại một chuỗi im lặng tuyệt đối.

*Tông Nguyên: Liễu Tông Nguyên người Hà Đông, nay thuộc huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc).

Ông đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ chín (793) đời Đường Đức Tông, làm quan đến chức Giám sát ngự sử.

Ông là một nhà thơ lớn, tham gia cải cách triều chính, nhằm cải thiện đời sống dân chúng và hạn chế đặc quyền của hoạn quan và đại quý tộc, bị biếm làm Tư mã Vĩnh Châu.

Quách Tử Nghi lập công trong loạn An Sử, công lao được ghi bút son (1) trên phẩu phù (2). Trong quân, tuyệt đối không ai không phục. Có được sự ra sức liều chết của binh sĩ như vậy, cho dù là Lý Quảng (3), Vệ Tướng quân (4) tái thế cũng chỉ có thể ngang tài ngang sức với hắn mà thôi.

Chẳng bao lâu sau, hắn cưới con gái cả họ Vương của Phủ quân Duyễn Châu làm thê tử, được Thiên Tử ban cho tước hiệu Hoắc Quốc phu nhân.

Hi Lam tham gia hôn yến của hắn. Trong buổi hôn lễ, nàng gặp lại Trịnh Huệ. Nàng ta đã xuất giá, phu quân chính là công tử mặc trang phục người Hồ lẳng lơ trong đêm Nguyên Tiêu năm Thiên Bảo đầu tiên, mà giờ đây lại là cấp dưới của Quách Tử Nghi. Điều này khiến nàng ta vô cùng xấu hổ vì năm đó đã trêu chọc Quách Tử Nghi không ra gì.

Khi gặp Hi Lam, nàng ta đầu tiên bất ngờ vì dung mạo của Hi Lam vẫn chưa già đi, rồi lại ám chỉ việc Hi Lam không biết quý trọng.

Hi Lam cười cười đưa quà tặng. Trước khi động phòng, nàng chắp tay nói với Quách Tử Nghi một câu bảo trọng.

Đã giải quyết xong tất cả mọi chuyện tồn đọng ở Trường An, nàng cải trang lên đường, bắt đầu cuộc sống du sơn ngoạn thủy, bốn biển là nhà.

(1) Bút son: viết bằng mực đỏ.

(2) Phẩu phù: Một cây tre được chẻ làm đôi.

Khi đế vương cổ đại lập nước sẽ ban thưởng cho các tướng lãnh, chẻ tre làm đôi, chia thành hai nửa, quân một nửa, thần một nửa, là chứng minh cho những lời hứa.

(3): Lý Quảng (? - 119 TCN), còn có biệt danh là Phi tướng quân (Tướng quân bay), là một võ tướng dưới thời nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc, người Lũng Tây, nổi tiếng là biệt tài cưỡi ngựa bắn cung.

Sử ký Tư Mã Thiên có ghi chép về Lý Quảng: Sách dạy rằng: "Thân mình mà chính, không ra lệnh người ta cũng làm.

Thân mình mà không chính, dù ra lệnh cũng không ai theo!".

Đó phải chăng là chuyện Lý tướng quân!.

Tôi xem Lý tướng quân chất phác như người nhà quê, miệng nói chẳng nên lời.

Đến khi chết trong thiên hạ quen hay không quen, đều hết sức thương xót.

Đó là vì lòng trung thực của ông làm cho tướng sĩ tin yêu.

Tục ngữ có câu: "Đào mận không nói, dưới gốc tự nhiên thành đường!".

Câu ấy tuy nói việc nhỏ, có thể hiểu ra lẽ lớn vậy.

(4) Vệ Tướng quân, chỉ Vệ Thanh (?-106 TCN), tên gốc là Trịnh Thanh, biểu tự Trọng Khanh (仲卿), là tướng lĩnh nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc.

Ông nổi tiếng với thân phận em trai của Vệ Tử Phu, Hoàng hậu thứ hai của Hán Vũ Đế; ngoài ra còn là phu quân của Bình Dương công chúa, chị ruột cùng mẹ với Vũ Đế.

Ông là người bảy lần chiến thắng quân Hung Nô.

Sáng sớm ngày khởi hành, Hi Lam cưỡi ngựa khẽ dừng lại trước cổng thành Trường An.

Bên trong thành vang lên tiếng trống lúc trầm lúc bổng.

Trường An vẫn là Trường An với những ngõ phố đan xen, nối liền ba chợ như trước. Có Kim Ngô vệ cưỡi ngựa hàng ngàn (1), ngựa xe nườm nượp (1), xe ngọc tấp nập về nhà hầu gia (1).

Cảnh tượng trước mắt giống quá khứ biết bao, nhưng lại cũng vô cùng khác lạ.

Nàng nhớ đến năm Thiên Bảo đầu tiên, nàng từng đi sau lưng thúc thúc, cưỡi ngựa ra cửa thành vào một buổi sáng sớm ở Trường An.

Khi ấy, bên cạnh có những thương nhân làm bánh Hồ mè, những nhà thơ phong lưu lưu luyến danh kỹ ở Bình Khang (2), những nhã sĩ tham gia khoa cử ngủ trọ tại Sùng Nhân phường, những cường hào chuẩn bị hàng hóa đến chợ Tây buôn bán... Từ khi ba cửa thành mở ra, bốn phía Đông Tây Nam Bắc đều mở rộng, ánh sáng vàng rực rỡ của Đông thổ rót vào Đế Đô, thức tỉnh cự long đang ngủ say.

Tất cả các con đường ở mười phường đều vô cùng ngăn nắp. Mỗi con đường dài khoảng một phần năm chiều rộng mỗi phường, hai bên đường được sắp xếp gọn gàng khiến con đường như dòng sông đang chảy.

Dù có trôi qua bao nhiêu năm đi chăng nữa, chợ Đông, chợ Tây vẫn luôn có những mái lầu đỏ rực chạm trổ rồng ngậm ngọc (1), xe ngựa bảy hương (1) phú quý khôn cùng, có vương tôn công tử cùng đoàn nô bộc cưỡi tuấn mã đi dạo giữa những con đường phồn hoa.

Lúc ấy, cung Đại Minh là một viên Minh Châu Đông Bắc tỏa ra ánh sáng lộng lẫy, chiếu rọi ánh sáng vàng rực rỡ, bảo vệ Đế Đô thiên cổ.

Từ khi mặt trời mọc lên cao, diện mạo Đô thành ngày càng rõ ràng. Đôi mắt của những người Tây Vực bước vào cổng thành cũng càng lúc càng mở lớn, tràn ngập khát khao với cường quốc mạnh nhất thế giới...! Đó là Đế Đô lớn nhất, phồn vinh nhất thiên hạ.

Đó là Đại Đường thịnh thế, từ nay về sau sẽ không còn tái hiện nữa.

(1) Tác giả diễn giải từ những cảnh được miêu tả trong bài Trường An cổ ý của Lư Chiếu Lân.

Xe ngựa bảy hương: xe ngựa được làm từ 7 loại gỗ để có mùi hương thơm độc đáo.

(2) Nơi ở của kỹ nữ, phường dành cho kỹ nữa trong thành Trường An.

Lý Bạch đã qua đời vào năm Bảo Ứng đầu tiên, được chôn cất ở Đương Đồ, huyện Long Sơn, Đông Lộc.

Lúc ấy, chỉ còn thiếu một năm nữa là loạn An Sử sẽ chấm dứt, giang sơn sẽ trở lại vòng tay của Lý thị Đại Đường.

Nhưng nghĩ kỹ lại, tình cảnh Đại Đường hôm nay dường như cũng chẳng có gì đáng để nuối tiếc.

Khi đến dâng hương trên mộ phần Lý Bạch, Hi Lam lại cảm thấy núi Đăng Long cũng có chút thú vị. Nếu như người chết cũng có thể phân ra tốt và xấu, vậy thì Lý Bạch là cái chết tốt.

Đêm hôm đó, Hi Lam lại vẽ một tiên nhân, là cố nhân trong giấc mộng của nàng ở Lạc Dương năm xưa.

Hắn không hiện ra từ trong tranh, nhưng lại xuất hiện trong giấc mơ của nàng.

Hắn bước ra từ vầng trăng, ánh sáng rực rỡ ngập tràn bờ vai hắn.

Trong khoảnh khắc nàng nhìn thấy hắn, nàng không hề nghĩ ngợi liệu hình bóng tiên tôn này rốt cuộc là bóng dáng trong mơ, bóng dáng trong tranh hay bóng dáng phu quân mình.

Nàng chỉ biết, cho dù là Huyền Tông Hoàng đế đã mở ra Đại Đường thịnh thế, cả đời huy hoàng, nhưng đến khi mất đi cũng chỉ trong chớp mắt.

Giang sơn như sương khói, bá nghiệp như mộng. Sau khi trải nghiệm qua tất cả mọi chuyện, nhìn hết hoa trăng và gió xuân, hóa ra cũng chỉ là một lần gặp gỡ giữa ánh trăng này…

Vẽ hạnh vẽ đào vẽ núi xanh Đầu xuân hạnh rụng vẽ tiên anh Vẽ thơ vẽ rượu rồi xe ngựa Vẽ lên liễn lọng đỏ tua mành Chợ Đông khanh sĩ Cao Lộc đến Chợ Tây nhẹ phẩy phú quý duyên Ngõ nhỏ Ô Y (1) gió nhẹ thoảng Da cương đầu ngựa bạn chẳng còn. Loạn thế tiêu điều khói tuyết bay Cơ nghiệp ngàn năm sao chịu giày? Dương phi bế nguyệt (2) sai đồng tội Thánh giá cô tinh nơi nào đày. Xưa có Văn Quân khóc Mậu nữ, Tùng la bị ép phải lìa tan.

(4) Bình yên ôm nỗi tương tư nhớ Mong thấy người yêu trong mộng tàn. Trường An muôn tuổi căn cơ vững Thiên thu thịnh thế Bắc lưu truyền Dáng thắm tóc sương chờ mực hết Cười với tiên nhân tranh rừng đào. (1) Ngõ Ô Y: là tên của một con đường phồn hoa ở Kim Lăng.

(2) Dương phi bế nguyệt: Dương Ngọc Hoàn có vẻ đẹp bế nguyệt, khiến trăng cũng phải giấu mặt đi vì ngại không bằng.

(3) Ý chỉ bài thơ Bạch Đầu Ngâm do Trác Văn Quân gửi Tư Mã Tương Như vì ông phong lưu giúp cho một nữ tử Mậu Lăng, quên vợ ở nhà.

(4) Trong bài thơ Bạch Đầu Ngâm của Lý Bạch viết về câu chuyện của Trác Văn Quân và Tư Mã Tương Như có mô tả người rong chơi bên ngoài như tơ hồng, còn cành nữ la vươn ra quấn lấy níu kéo như Trác Văn Quân níu kéo chồng.

Nhưng trong trường hợp này Dật Sơ chưa biết nơi đâu, Hi Lam bị ép phải chia xa với chàng.

Bản dịch này được thực hiện bởi truyen.free, giữ gìn trọn vẹn từng lời kể.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free