(Đã dịch) Nhũ Tử Xuân Thu - Chương 790: Đây chính là đồng hóa!
Học cung không còn chỉ dạy lục nghệ cho các đệ tử, mà tiến hành đào tạo chuyên sâu theo từng lĩnh vực.
Theo Lã Đồ, học cung khác biệt với hương giáo. Hương giáo tập trung vào việc giáo hóa đạo đức và truyền thụ kiến thức cơ bản giúp người dân địa phương sinh tồn, trong khi học cung chủ yếu tồn tại để "thụ người lấy ngư" (dạy người cách câu cá, thay vì cho cá sẵn).
Ví dụ, nếu sĩ tử muốn học y bốc thuật, họ sẽ đi theo vị phu tử tinh thông lĩnh vực này để tu tập. Đương nhiên, trong quá trình đó, họ cũng có thể theo học các phu tử khác. Việc giảng dạy của mọi phu tử đều tự do, và mọi sĩ tử cũng được tự do lựa chọn phu tử mà mình muốn theo học.
Học cung không chỉ có cơ chế thi cử nội bộ riêng, mà còn có "học cung đối thi" do triều đình tổ chức. "Học cung đối thi" chính là "Đá quán chi lễ" được tổ chức ba năm một lần giữa năm đại học cung.
Nghĩa là, ví dụ như năm nay Lịch Hạ học cung đăng cai, bốn học cung còn lại sẽ cử ra mười đệ tử ưu tú nhất đến Lịch Hạ học cung để "đá quán". Học cung có đệ tử biểu hiện xuất sắc nhất sẽ nhận được danh hiệu "Ngũ Nhạc đỉnh cao", còn đệ tử đó sẽ được gọi là "quốc sĩ".
Quốc sĩ không phải "đại quốc sĩ", mà chỉ là một danh xưng về học thuật, được năm đại học cung thừa nhận nhưng chưa được chính phủ công nhận chính thức. Đương nhiên, muốn được chính phủ tán thành, họ nhất định phải vượt qua vòng ti��p theo: thi đấu.
"Thi đấu" là nơi các đệ tử đã đạt danh hiệu quốc sĩ có thể tham dự, được tổ chức năm năm một lần tại thủ đô, do đích thân nhà vua chủ trì. Người thắng cuộc không chỉ được trực tiếp bổ nhiệm làm quan, mà còn được nhà vua trao tặng tước vị tiến sĩ. Ngay cả những người thất bại cũng sẽ được triều đình tuyển chọn, trở thành quan lại.
Học sinh theo học tại hương giáo được gọi là học sĩ, tốt nghiệp thì gọi là tú sĩ. Người vào học tại học cung gọi là tiến sĩ, tốt nghiệp thì gọi là thạc sĩ.
Người đứng đầu học cung, tước vị thấp nhất là đại quốc sĩ, được gọi là cung trưởng. Người đứng đầu hương giáo, tước vị thấp nhất là đại sĩ, được gọi là sơn trưởng, hiệu trưởng, v.v.
Về nguồn kinh phí của hương giáo và học cung, học cung được chính phủ trung ương và hoàng thất trực tiếp cấp, còn hương giáo thì do quan phủ các địa phương chi ra, đồng thời cũng khuyến khích các hương thân quý tộc quyên tặng.
Hệ thống giáo dục từ trung ương đến địa phương này, tựa như một cây đại thụ, hấp thụ những sĩ tộc, quý tộc tinh hoa nhất. Qua quá trình giáo dục và cải tạo như một thân cây, họ đơm hoa kết trái thành những hạt giống quý giá. Sau đó, những hạt giống này lại được triều đình thu hoạch và gieo rắc đến những vùng đất khác.
Kết quả là, từ một thân cây ban đầu, dần dần đã hình thành một cánh rừng tràn đầy sức sống xung quanh. Hơn nữa, cánh rừng này chính là một rừng rậm "trăm hoa đua nở" dưới một nền tảng thống nhất.
Ví dụ như các bộ tộc ngoại bang Hồ Nhung trong lãnh thổ nước Tề, sau khi chấp nhận sự phân phong của Lã Đồ và "định cư", con cháu của họ được coi như dòng dõi thế gia. Theo quy củ, họ tất nhiên phải tiếp thu giáo dục của hương giáo. Khi những người này tốt nghiệp sau khi tiếp thu giáo dục vương hóa, trở về bộ tộc mình, họ sẽ dần kéo bộ tộc đó quy phục, đồng hóa, cuối cùng khiến bộ tộc của họ trở nên không khác gì đa số người dân nước Tề.
Đây chính là quá trình đồng hóa!
Lã Đồ đã tiếp thu kinh nghiệm thất bại của Tần Thủy Hoàng trong việc đồng hóa bằng "bạo chính", để rồi tạo ra một phương pháp đồng hóa tuy ôn hòa nhưng "giết người không đổ máu" (ám chỉ sự đồng hóa văn hóa tinh vi, triệt để).
Tuy nhiên, việc dùng giáo dục để đồng hóa các bộ tộc ngoại bang không phải là do Lã Đồ tự mình nghĩ ra. Ông từng đọc qua tấu chương của danh thần Tư Mã Tương Như gửi cho Hán Vũ Đế, trong đó có một phương pháp là sau khi dùng vũ lực cưỡng chế họ "dễ ăn mặc" (thay đổi trang phục, phong tục), thì lại dùng giáo dục Nho gia để vương hóa các bộ tộc Man ở Kinh Sở, khiến cuối cùng họ không khác gì người Hán.
Chỉ có điều, Lã Đồ không dã man như Tư Mã Tương Như. Ông không áp đặt chính sách, cưỡng ép các bộ tộc ngoại bang này "dễ ăn mặc", mà là trong tình huống không trái với đại cục, cố gắng hết sức tôn trọng họ.
Ví dụ, tại Ngô Việt Kinh Sở, các bộ tộc ngoại bang và bình dân thuộc tầng lớp sĩ tộc thường lưu hành trang phục đỏ, cắt tóc và xăm mình. Lã Đồ liền không áp đặt, cưỡng chế họ phải mặc đồ đen, để tóc dài và không xăm mình.
Chính sách ôn hòa này của Lã Đồ đã tránh được xung đột văn hóa, ngăn chặn sự căm thù của cựu dân các nước bị diệt, góp phần tạo nên sự đồng thuận với quốc gia và đại dung hợp dân tộc. Điều này không nghi ngờ gì đã phát huy tác dụng tiên phong vô cùng tốt đẹp.
Đương nhiên, đối với chính sách ôn hòa này, ban đầu, các thế lực bảo thủ trong nước Tề cũng có sự nghi ngờ. Mặc dù họ tán thành quan điểm "một quốc gia, một nền văn hóa" của Lã Đồ.
Bởi lẽ, họ cho rằng mình là người chiến thắng, và với tư cách người chiến thắng, họ lẽ ra phải được đứng trên cao, có quyền quy định mọi thứ. Họ đề xuất nên dùng bạo lực quốc gia để cưỡng chế vương hóa trên diện rộng các vùng lạc hậu. Ví dụ, trước tiên là "dễ ăn mặc", buộc những người có trang phục và sắc thái khác biệt với đa số dân nước Tề phải thống nhất về quần áo và màu sắc.
Nếu gặp phải kẻ không phục hoặc chống đối vương hóa, thì cứ thẳng tay giết, giết đến khi nào họ chịu khuất phục thì thôi. Chỉ có như vậy, nước Tề mới có thể trong thời gian ngắn nhất thực sự trở thành một quốc gia thống nh��t, chứ không phải như hiện tại, khi mà chỉ riêng trang phục thường ngày và kiểu tóc của dân chúng nước Tề đã có trăm nghìn loại, chưa kể đến ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng, phong tục tập quán. Nhìn chung, mọi thứ vô cùng hỗn độn, không thống nhất, cứ như thể đây không phải một quốc gia vậy.
Và nếu cứ như thể không phải một quốc gia như vậy, thì làm sao có thể có lòng trung thành và sức mạnh đoàn kết hướng về quốc gia được?
Những lời lẽ tuyên truyền đầy tính kích động của họ đã nhận được không ít sự ủng hộ trong triều đình, nhưng cuối cùng lại bị Lã Đồ một câu nói chặn họng.
Lã Đồ nói: "Đừng coi thường họ, hãy gạt bỏ sự kiêu ngạo của chúng ta. Tổ tiên chúng ta khác gì họ đâu?"
Chính sách vương hóa của nước Tề lan tỏa khắp thần dân trên đất Tề, dù tốc độ có chậm hơn một chút, nhưng lại giống như ánh nắng ấm áp của ngày đông, khiến lòng người dễ chịu. Mọi người đều tận hưởng thứ ánh nắng này.
Trong mười năm, mức độ đoàn kết, gắn bó của lòng dân nước Tề đã tăng gấp trăm lần so với mười năm trước.
Kinh tế phồn vinh, dân số bùng nổ, giáo hóa được củng cố, toàn bộ nước Tề biến chuyển từng ngày, phát triển không ngừng.
Và tất cả những điều này đều phải quy công cho Lã Đồ, người lãnh đạo tài ba này, cùng với sự lãnh đạo đã giúp thần dân cả nước đồng lòng của ông.
Lại đến mùa chặt tre. Tại vùng núi hoang dã giao cắt với Phì Thủy, suối nước chảy róc rách, guồng nước quay vòng phành phạch. Gió núi thổi tới, rừng trúc nghiêng ngả, một màu xanh mướt tràn trề sức sống.
Một đám người tiến vào rừng trúc. Người đi đầu trong số đó là một ông lão hạc phát đồng nhan, bên cạnh ông là một nhóm đông các quý tộc, nông dân, cùng những đứa trẻ đang nô đùa. A, còn có mấy con chó đốm lớn đang qua lại, chạy nhảy trong rừng.
Ông lão cầm trong tay một con dao bầu chuyên dùng để chặt tre. Ông băn khoăn tìm kiếm một hồi lâu trong rừng trúc, cuối cùng, ánh mắt ông dừng lại ở một gốc trúc xanh to bằng cái bát. Ông tiến lên vỗ vỗ thân tre, rồi áp tai lắng nghe. Cuối cùng, ông rất lấy làm thỏa mãn, bèn xắn tay áo lên, cầm dao bầu chém vào thân tre.
Chẳng bao lâu, một khối tre bị chặt đứt, để lộ một cái lỗ rỗng bên trong. Một cảnh tượng kỳ lạ, khiến người ta kinh ngạc, đã diễn ra: chỉ thấy bên trong gốc tre ấy đột nhiên phun ra dòng nước róc rách. Ông lão mừng rỡ, vội vàng nhận lấy một cái bát gốm từ tay người trẻ tuổi. Chẳng mấy chốc, bát gốm đã đầy ắp.
Bát nước trong bát gốm tỏa ra hương thơm lạ lùng, ngào ngạt. Bất cứ ai đến gần ngửi thấy, đều không khỏi nuốt nước bọt.
Ông lão nhìn kỹ chất lượng nước trong bát gốm, rồi lại ghé mũi ngửi thử, lúc này mới cười nói: "Trúc tửu đã thành!"
Nội dung chuyển ngữ này được thực hiện với sự tôn trọng bản quyền của truyen.free.