(Đã dịch) Phi Châu Sang Nghiệp Thực Lục - Chương 162: Cuối năm
Cuối năm 1868 lại về.
Dân số thuộc địa Đông Phi, sau nhiều biến động, đã chạm mốc 1,75 triệu người. Ngoài lượng dân nhập cư mới, nơi đây còn chứng kiến làn sóng bùng nổ trẻ sơ sinh đầu tiên.
Trong hai năm qua, nhờ môi trường tương đối ổn định cùng chính sách ưu tiên nữ giới nhập cư của Đông Phi, vấn đề hôn nhân của dân di cư đã dần được c���i thiện. Các gia đình mới thành lập chiếm đa số trong cơ cấu dân cư.
Khi đã lập gia đình, việc sinh con nối dõi là lẽ tất yếu. Đông Phi liên tục hưởng lợi từ chiến tranh, lãnh thổ mở rộng và diện tích canh tác tăng đều, tạo động lực mạnh mẽ cho việc sinh sản.
Vào thời đại này, chi phí nuôi dạy trẻ cực thấp, cộng với quan niệm truyền thống "đẻ càng nhiều càng tốt" của dân di cư, khiến họ gần như sinh sản không kiểm soát. Những người nhập cư này chỉ cần làm việc chăm chỉ hơn một chút là đã có thể nuôi thêm miệng ăn.
Dân thuộc địa Đông Phi hầu như không có ý thức về khủng hoảng, chủ yếu vì vùng đất quá rộng lớn, điều kiện tự nhiên quá ưu đãi, khác xa môi trường cạnh tranh khốc liệt ở lục địa Á-Âu.
Ngoài dân nhập cư, lao động bản địa không được tính vào thống kê dân số Đông Phi. Năm nay, ước tính có khoảng 1,3 triệu thổ dân.
Châu Phi vốn không thiếu thổ dân. Mặc dù bị kiểm soát chặt chẽ, họ vừa phải đảm nhận công việc nặng nhọc, vừa bị thuộc địa Đông Phi bán đi, dẫn đến sự hao hụt dân số rất l���n. Nhưng mỗi khi mở rộng về phía Tây, Đông Phi lại bắt thêm một lượng lớn thổ dân mới để bù đắp sự thiếu hụt lao động – một nền kinh tế nô lệ điển hình với chu trình khép kín "có vào có ra".
Dưới nền kinh tế nô lệ, cơ sở hạ tầng Đông Phi được xây dựng với tốc độ chóng mặt. Các thành phố và làng mạc đều được kết nối bằng đường sá.
Việc sử dụng nô lệ rộng rãi giúp người Đông Phi dễ dàng khai khẩn lượng đất đai gấp nhiều lần, thay thế sức lao động của gia súc và máy móc, duy trì quy mô nông nghiệp khổng lồ.
Lương thực thu hoạch được chia ba phần: một cho dân nhập cư, một cho nô lệ, một xuất khẩu.
Phần dành cho dân nhập cư chiếm tỷ lệ lớn nhất, không phải vì họ ăn nhiều, mà vì những người mới đến đều trắng tay, chưa thể tự sản xuất ngay nên cần được ứng trước lương thực. Các hoạt động như khai hoang, xây dựng làng mạc hay viễn chinh đều cần lượng lương thực khổng lồ.
Khẩu phần cho nô lệ cũng không hề nhỏ, do số lượng của họ rất đông đảo. Để giải quyết vấn đề này, Đông Phi đã trồng một lượng lớn ngô và sắn – những loại cây có năng suất cao, dễ chăm sóc và gần như tự sinh trưởng.
Lương thực xuất khẩu là nguồn thu chính nhưng mang tính chu kỳ. Mặc dù diện tích canh tác lớn, lượng lương thực xuất khẩu hiện không nhiều vì dòng người nhập cư liên tục. Lương thực xuất khẩu phải chất lượng cao để cạnh tranh ở châu Âu. Nhờ chi phí nhân công và đất đai thấp, lợi nhuận thu về rất khả quan.
So với cây lương thực, cây công nghiệp sinh lời hơn nhiều nhưng Đông Phi tồn tại chưa đủ lâu để thu hoạch. Ví dụ, các vườn cà phê Kenya phải mất 3-5 năm mới cho thu hoạch; đồn điền cao su ven Hồ Lớn cần 6-8 năm; hay cây canh-ki-na cũng phải có thời gian để phát triển. Chỉ có sisal, đinh hương và lạc là đã vào giai đoạn sản xuất ổn định.
Trong nửa cuối năm, Đông Phi mở rộng không đáng kể, chủ yếu là việc đẩy đuổi các bộ lạc thổ dân ở phía Tây dãy Mitumba.
Khu vực này là vùng đệm tự nhiên giữa cao nguyên Đông Phi và lưu vực Congo, có địa hình hiểm trở. Việc chiếm đóng này chỉ là sự tiếp nối của chiến dịch Tây Bắc trước đó, nên chính quyền không mấy quan tâm.
Toàn bộ dãy Mitumba được bao phủ bởi rừng nguyên sinh và thưa thớt dân cư. Phía Tây mang đặc trưng khí hậu rừng mưa nhiệt đới. Thuộc địa Đông Phi dễ dàng chiếm được vùng đất rộng 200.000 km² này – tương đương diện tích của hai tỉnh Bắc Kivu và Nam Kivu thuộc Congo sau này.
Ở thời điểm này, Vương quốc Congo vẫn đang vật lộn bên bờ Đại Tây Dương. Thế lực mạnh nhất quanh khu vực Mitumba, nhóm "Tám nước", đã bị Đông Phi tiêu diệt hoặc xua đuổi.
Phía Tây dãy Mitumba là rừng mưa rậm rạp, với rất ít khu vực có thể sinh sống được. Lưu vực Congo không có quốc gia nào, chỉ toàn bộ tộc người bị gọi chung là "các bộ lạc Bantu Tây Bắc" – đối trọng với nhóm Đông Bantu đã bị tiêu diệt.
Trong lịch sử gốc, sau này, khi Bỉ xâm lược, khu vực này mới hình thành nên Congo thuộc Bỉ. Nhưng giờ đây, khi dãy Mitumba đã thuộc về Đông Phi, người Bỉ không còn đất để dụng võ.
Năm tới, theo kế hoạch, Đông Phi sẽ thôn tính cao nguyên Katanga (miền Nam Congo) và khu vực Đông Zambia. Trong tương lai, Bỉ s�� chỉ còn lại lưu vực Congo thực sự – một vùng toàn rừng mưa.
Những vùng cao nguyên và núi tương đối dễ sống đều đã bị Đông Phi chiếm giữ hoặc đánh dấu. Sự xuất hiện của thuộc địa này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cuộc chia cắt châu Phi của các cường quốc.
Hiện tại, Ernst không mấy mặn mà với vùng lõi lưu vực Congo – một "vùng cấm địa" rừng mưa nhiệt đới đúng danh bất hư truyền.
Trong cả năm 1868, lãnh thổ Đông Phi chỉ mở rộng khoảng 500.000-600.000 km², chủ yếu về phía Tây Bắc. Trong số đó, khu vực "Tám nước" tiêu tốn nhiều công sức nhất, nhưng sau khi bị tiêu diệt, Đông Phi đã thiết lập quyền kiểm soát vững chắc tại đây.
Ngoài Ai Cập ở Bắc Phi, không thế lực nào đe dọa được khu vực này.
Bên cạnh việc gia tăng dân số và mở rộng lãnh thổ, Đông Phi cũng xây dựng hệ thống thủ công nghiệp sơ khai nhằm phục vụ nhu cầu của dân nhập cư, bao gồm: các lò muối, lò gạch, lò vôi và nhiều xưởng thủ công khác.
Đây đều là những ngành nghề được tiếp quản từ vùng đất phía Đông của Vương quốc Hồi giáo Zanzibar cũ, sau đó dần mở rộng vào nội địa.
Đặc điểm chung là công nghệ còn thấp, sản lượng cũng thấp, nhưng đối với một thuộc địa "trắng tay" như Đông Phi, việc có được những thứ này đã là một bước phát triển. Công nghệ thấp đồng nghĩa với việc dễ tiếp thu hơn, phù hợp với môi trường mù chữ phổ biến ở đây. Nếu đưa máy móc hiện đại vào, trình độ của người dân thuộc địa sẽ không đủ để bảo trì.
Nhóm người có học vấn cao nhất ở Đông Phi chỉ tương đương trình độ tiểu học, và họ lại phân tán khắp các cơ quan chính quyền để vận hành bộ máy. Dù vậy, trong năm nay, Đông Phi vẫn xây dựng được vài nhà máy hiện đại quy mô nhỏ. Toàn bộ máy móc và linh kiện đều phải nhập khẩu, đồng thời cần có các chuyên gia châu Âu giám sát từ khâu xây dựng đến vận hành.
Vấn đề lớn nhất là thiếu chuỗi cung ứng hoàn chỉnh. Ở châu Âu, nếu thiếu hụt bất kỳ thứ gì, người ta có thể nhập từ nước láng giềng, vì vậy ngay cả những quốc gia nhỏ cũng có thể công nghiệp hóa nhờ vào hệ thống sẵn có.
Còn Đông Phi, láng giềng duy nhất của họ là Ai Cập – một quốc gia mới chập chững công nghiệp hóa nhưng đã bị Anh, Pháp và Ottoman chặn đứng. Thuộc địa Mozambique của Bồ Đào Nha hoàn toàn là một nơi bị bóc lột triệt để. Ngay cả Bồ Đào Nha cũng không mạnh về công nghiệp, nói gì đến thuộc địa. Vì vậy, điều kiện để công nghiệp hóa ở Đông Phi vẫn chưa chín muồi.
Dĩ nhiên, nếu có đủ tiền, ngay cả ở Nam Cực cũng có thể xây được nhà chọc trời. Nhưng Tập đoàn Hechingen không phải tổ chức từ thiện. Chính việc Ernst liên tục bơm tiền đầu tư mới tạo nên quy mô dân số và lãnh thổ như hiện tại. Trên thế giới khó tìm được trường hợp thứ hai. Nếu Công ty Đông Ấn khai thác Ấn Độ mà liên tục thua lỗ, chính phủ Anh ắt hẳn đã bỏ cuộc từ lâu.
Lý do các đế quốc không mở rộng một cách bừa bãi chính là vì vấn đề chi phí – việc vận hành một thuộc địa cũng rất tốn kém. Điều Đông Phi cần lo lắng nhất là sau bao nỗ lực phát triển lại sẽ "trao gửi ngọc cho người khác". Vì vậy, dân số và quân đội chính là hai yếu tố cốt lõi.
Có con người thì mới có binh lính và ngân sách quân sự. Chỉ khi có quân đội mạnh, trang bị hiện đại thì mới có thể bảo vệ được thuộc địa. Với những kẻ thực dân như Ernst, con người cũng là tài sản. Ngay cả khi chất lượng không đạt, số lượng đông đảo cũng đủ sức tạo ra của cải cho Hoàng tộc Hechingen. Như trường hợp Ấn Độ sau này, mặc dù đời sống người dân khổ cực, các doanh nghiệp vẫn có thể phát triển nhờ vào thị trường và nguồn nhân lực khổng lồ.
Bản quyền văn bản này thuộc về truyen.free, nghiêm cấm mọi hình thức sao chép và phân phối không được phép.