(Đã dịch) Ta Thật Sự Là Châu Phi Tù Trưởng - Chương 180: . Hái cát (11/ 20, 30050 minh + 1)
Lưu luyến nhìn theo, Dương Thúc Bảo tạm biệt đàn hồng hạc xinh đẹp, tao nhã. Thức ăn của loài chim này là rong biển và sinh vật phù du, mà khu bảo tồn thì không đủ nguồn thức ăn để nuôi sống chúng. Anh khởi động xe và cất tiếng hát, lũ hồng hạc lại một lần nữa giật mình, vỗ cánh bay vút lên cao.
Ở khúc sông cuối nguồn, lau sậy mọc um tùm, những bụi cỏ lau trắng xóa phủ kín mặt đất. Gió thổi qua, những ngọn lau phơ phất đung đưa, tạo nên một khung cảnh tuyệt đẹp. Bụi lau sậy là nơi trú ẩn lý tưởng cho rất nhiều loài chim rừng. Tuy nhiên, chúng bay rất nhanh, thoắt cái đã biến mất, khiến Dương Thúc Bảo không thể nhận ra đó là loài chim gì.
Khi xe đến đích, Dương Thúc Bảo thấy bên bờ sông có vài cây cổ thụ thân cành uốn lượn. Lá cây không nhiều, nhưng cành lá lại xum xuê, vỏ cây đen sạm và vô cùng thô ráp. Lần đầu tiên thấy loại cây này, anh không khỏi tò mò nhìn kỹ.
Jill giới thiệu: "Anh chưa thấy bao giờ à? Đây là Combretum Imberbe. Ở châu Phi, rất nhiều gỗ Combretum Imberbe được xuất khẩu sang châu Á các anh. Chúng rất tốt, cứng, bền, chịu mài mòn và chống ăn mòn hiệu quả."
Dương Thúc Bảo lắc đầu: "Tôi chưa từng thấy thật, nhưng nghe anh giới thiệu thì quả thực rất tốt. Có thể dùng làm đồ nội thất cao cấp được không?"
Jill đáp: "Không, không phải đâu. Chúng không thích hợp làm đồ nội thất vì quá cứng, độ dẻo dai kém, thà gãy chứ không cong. Nếu dùng chúng để chế tác đồ nội thất, thành phẩm chỉ có hai trạng thái: một là bền chắc và đẹp đẽ, hai là hoàn toàn đổ vỡ. Tuy nhiên, chúng có thể dùng làm sàn nhà. Tôi từng đọc một tạp chí nói rằng hiện nay, biệt thự ở châu Á rất chuộng loại gỗ này để lát sàn, nhưng thật ra như vậy hơi lãng phí."
Dương Thúc Bảo vừa quan sát cảnh vật xung quanh vừa hỏi: "Vậy không lãng phí thì dùng chúng để làm gì?"
Jill trả lời: "Đương nhiên là để đốt lửa trại rồi. Chúng có mật độ gỗ rất cao nên cháy rất lâu và bền."
Dương Thúc Bảo gật đầu, không nói gì thêm.
Đến khúc s��ng này, dòng chảy bắt đầu uốn lượn. Dòng nước chảy xiết va thẳng vào bờ rồi lại đổi hướng, gặp nhiều trở ngại ở đây. Vì vậy, phù sa và cát từ thượng nguồn theo nước về đều bị giữ lại, chỉ có dòng nước trong xanh chảy tiếp vào hồ St. Lucia.
Những bụi lau sậy rậm rạp che giấu một chiếc thuyền. Jill nói, thuyền của họ nằm ngay bên trong. Hai người tiến lại để lấy thuyền. Vừa vén bụi lau sậy ra, một con bồ nông to lớn giật mình vỗ cánh bay vút lên.
Jill xoa lưng tiếc nuối: "Không mang súng rồi, nếu không trưa nay chúng ta đã có món bồ nông nướng. Thịt chúng ngon lắm, vừa mềm vừa thơm, còn hơn cả thịt thú rừng."
Dương Thúc Bảo cười: "Thôi được rồi, tôi không có giấy phép săn bắn. Nếu ở đây mà săn thú hoang dã là phạm pháp đấy."
Jill đáp: "Vậy để tôi lo. Chúng tôi, người Zulu, đời đời kiếp kiếp sống dựa vào thịt động vật và chim chóc. Chúng tôi có quyền tự do săn bắn chúng, nhưng chỉ là để làm thức ăn chứ không phải giết chóc vô cớ."
Trong bụi cỏ rậm rạp còn giấu một chiếc thuyền độc mộc nguyên thủy của châu Phi. Chiếc thuyền được làm từ một đoạn thân cây, gọt sạch cành, khoét rỗng một mặt để ngồi và đi kèm một cặp mái chèo, có thể dùng để di chuyển trên sông hồ.
Dương Thúc Bảo hỏi: "Đây là thuyền của các anh à?"
Jill trả lời: "Không phải, không biết của bộ lạc nào cả."
Dương Thúc Bảo thắc mắc: "Họ để đây không sợ bị trộm sao?"
Jill cười nói: "Trên thuyền làm gì có mái chèo, trộm làm sao mà mang đi? Kéo lên bờ rồi dùng xe kéo ư? Điều đó là không thể. Nếu kẻ trộm có xe thì họ đã không cần đi trộm nữa rồi."
Dương Thúc Bảo bật cười, đúng là một logic thú vị. Hóa ra kẻ trộm ở Nam Phi cũng lười biếng đến vậy.
Jill nghĩ ngợi một lát rồi hỏi: "Đây là lần đầu tiên anh thấy cảnh giấu thuyền trong bụi cỏ thế này à?"
Jill vẫy tay về phía anh: "Vậy tôi phải mở mang tầm mắt cho anh rồi. Đi theo tôi, c���n thận một chút. Nếu sau này anh thấy một chiếc thuyền độc mộc đậu ở bờ sông, đừng tự ý đến gần hay liều lĩnh chui vào, vì bên trong thường có bẫy đấy."
Để tránh nước mưa, chiếc thuyền độc mộc được phủ một tấm da bò cũ. Jill dùng một cây gậy cẩn thận đẩy tấm da ra, lập tức một cái đầu rắn lao nhanh ra từ bên trong, mổ thẳng vào cây gậy.
Dương Thúc Bảo giật mình: "Sao trong này lại có rắn?"
Jill giải thích: "Để phòng kẻ trộm thuyền chứ sao. Anh nghĩ chủ thuyền không có cách nào đề phòng à? Đây là một con rắn nước, anh biết đấy, tất cả rắn nước đều có độc và cực kỳ nguy hiểm."
Dương Thúc Bảo ngạc nhiên hỏi: "Nhưng sao con rắn nước này lại ngoan ngoãn nằm yên trên thuyền thế kia? Bị thuần hóa rồi sao?"
Anh thầm nghĩ, nếu ở châu Phi có bộ lạc có thể thuần phục được rắn nước, vậy việc tinh linh ma thú nâng cao trí tuệ cho động vật cũng chẳng có gì là không thể.
Jill bật cười: "Anh hỏi câu ngốc nghếch quá. Ai mà thuần phục được rắn nước chứ? Đuôi nó bị mắc kẹt vào thuyền rồi nên chẳng đi đâu ��ược cả."
Chiếc xà lan hút cát được neo ở chỗ sâu hơn, nên họ phải lội qua một đoạn nước. Jill dặn anh phải cẩn thận vì dưới nước có thể có rắn và cả cá sấu. Jill giải thích: "Nhưng dù là cá sấu hay rắn nước, chỉ cần anh đừng trêu chọc thì chúng sẽ không chủ động tấn công đâu. Thật ra, chúng thấy người còn sợ ấy chứ."
Đi bộ hơn chục mét trong lòng sông, chiếc xà lan sắt nằm trên mặt nước dần lộ diện.
Chiếc xà lan dài hơn mười mét này vốn là một sà lan cũ được cải tạo. Trên đó trống trơn không có gì cả, cần phải lắp đặt máy móc tạm thời lên. Vì vậy, người của Jill không sợ có kẻ trộm, bởi đây chỉ là một cái vỏ sắt rỉ sét mà thôi.
Để hút cát, cần có máy bơm hút cát, máy bơm xả và động cơ diesel. Những máy móc này được giấu ở một nơi khác. Jill nhìn xung quanh không có ai rồi dẫn Dương Thúc Bảo vào rừng cây Combretum Imberbe ven sông, tìm thấy một cái hầm nơi cất giấu tất cả dụng cụ. Jill nhảy xuống, khuân vác máy móc ra ngoài. Anh ta đưa vòi hút cát, ống dẫn cát, đường ống bơm cao áp và toàn bộ dụng cụ liên quan cho Dương Thúc Bảo. Cả hai loay hoay mấy lượt, cuối cùng cũng lắp ráp xong chiếc xà lan hút cát này.
Dầu diesel được đổ vào động cơ, máy móc bắt đầu vận hành ầm ầm. Jill chặn miệng ống dẫn một lúc, rồi mạnh mẽ rút tay ra. Dưới áp lực, một dòng nước bùn đục ngầu lập tức phun trào ra ngoài. Lần đầu tiên thấy cách khai thác cát như thế này, Dương Thúc Bảo vô cùng ngạc nhiên, mở rộng tầm mắt.
Thật ra, bộ máy này không nên gọi là xà lan hút cát, mà nên gọi là giàn hút cát nổi, vì nó cơ bản không phải một chiếc thuyền. Tuy nhiên, loại giàn hút cát nổi chi phí thấp và không đòi hỏi kỹ thuật cao này lại rất phù hợp với nhu cầu của người dân bản địa. Tài nguyên cát và phù sa trong lòng sông rất phong phú. Người dân địa phương mỗi lần hút không quá nhiều cát, và dòng nước không ngừng mang đến lượng cát mới liên tục, chỉ vài ngày sau là lại có bùn cát mới được bổ sung.
Máy móc hút cát lên, cát bùn sẽ được giữ lại trên xà lan. Sau đó, họ nối thêm một chiếc bè nhựa lớn cạnh xà lan. Jill dùng bơm nước để rửa sạch cát bùn vừa hút lên, xả chúng ra bè nhựa. Nước bùn sẽ chảy trở lại sông, còn cát thì giữ lại trên bè. Dương Thúc Bảo chỉ việc dẫn người kéo bè vào bờ rồi chuyển cát lên xe ba gác là xong.
So với việc hút cát dưới nước, công việc này không nghi ngờ gì là tốn sức hơn rất nhiều. Nhưng xét về điều kiện ở đây, việc người Zulu có được kỹ thuật khai thác cát như vậy đã là khá tốt rồi. Trên thực tế, nhiều bộ lạc vẫn còn khai thác cát trong sông bằng những phương pháp nguyên thủy: dùng xô chậu múc từng gáo cát nước lên bờ.
Sau đó, Jill kể: "Ngày xưa chúng tôi cũng làm như vậy đấy, năng suất thấp lắm. Mãi sau này tôi mới ra chợ đồ cũ mua mấy món máy móc này về, rồi tự lắp ráp thành chiếc xà lan hút cát như bây giờ, nhờ vậy mà hiệu suất mới tăng lên được."
Dương Thúc Bảo hỏi: "Chiếc thuyền này là do anh tự lắp ráp à?"
Jill gật đầu đầy tự hào: "Đúng vậy, tổng cộng chỉ tốn hai nghìn đồng thôi, không tệ chứ?"
Với số tiền đó mà có thể lắp ráp được một chiếc xà lan hút cát thì quả thực rất đáng nể. Dương Thúc Bảo thầm xấu hổ vì trước đây từng xem thường khả năng sáng tạo của Jill, anh tự nhủ không thể khinh thường bất cứ ai nữa.
Truyện được biên tập độc quyền bởi truyen.free, kính mời quý độc giả tiếp tục theo dõi những chương tiếp theo.