(Đã dịch) Tục Nhân Hồi Đáng - Chương 1477: Thương hải hoành lưu cùng khanh biết
9 giờ sáng ngày 20 tháng 9 theo giờ bờ Đông nước Mỹ, lớp học thứ hai của giáo sư Michael Sandel về môn "Công chính: Nên làm thế nào là tốt" bắt đầu đúng giờ.
Chủ đề của lớp học này là "Chủ nghĩa công lợi".
Sau lời dạo đầu ngắn gọn, giáo sư Sandel bắt đầu bằng việc chiếu ba đoạn video đã được biên tập từ « The Simpsons », chương trình truyền hình thực tế « Trò chơi của người dũng cảm » và tác phẩm « Hamlet » của Shakespeare. Sau khi chiếu xong video, Sandel bổ sung thêm hai trường hợp kinh doanh thực tế. Khi trình bày xong các án lệ, ông đi đến giữa bục giảng, yêu cầu sinh viên bắt đầu tranh luận: Hạnh phúc có thể định lượng được không? Hạnh phúc ở cấp độ cao hơn liệu có đáng giá và có giá trị hơn? Khi niềm vui của số đông mâu thuẫn với công lý xã hội, khi lợi ích của đa số có thể là thấp hèn hoặc vô nhân đạo, liệu việc kiên trì bảo vệ lợi ích của tuyệt đại đa số có công bằng không?
Giáo sư Sandel vừa dứt lời, cuộc tranh luận sôi nổi lập tức bùng nổ.
Trong phòng học, những quan điểm sắc sảo cùng góc nhìn mới mẻ liên tục xuất hiện, khiến Biên Học Đạo, người đang dự thính, càng nghe càng thấy thấm thía.
Có được những điều bổ ích như vậy là điều hiển nhiên.
Bởi vì các trường đại học ở Mỹ có ba đặc điểm:
Đặc điểm đầu tiên là phương pháp giảng dạy bằng án lệ. Các giáo sư Mỹ thường lồng ghép kiến thức vào những án lệ và câu chuyện kinh điển, không yêu cầu ghi nhớ quá nhiều ghi chú, cũng không cứng nhắc hay gò bó, nội dung bài giảng rất cởi mở và linh hoạt.
Ưu điểm của phương pháp giáo dục này là học sinh có thể quên các công thức hay kiến thức trọng tâm, nhưng sẽ không quên con đường tư duy để suy luận ra chúng.
Đặc điểm thứ hai là chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Dù là Harvard hay các trường đại học khác, phần lớn công việc do sinh viên hoàn thành trước giờ học, nghĩa là họ phải đọc kỹ sách giáo khoa, sách tham khảo và các tài liệu liên quan mà giáo sư chỉ định, để có một hình dung đại khái về nội dung sắp được giảng. Thậm chí, nhiều sinh viên còn lập thành nhóm nhỏ, mô phỏng các buổi thảo luận trên lớp để rèn luyện tư duy và khả năng hùng biện của mình.
Phương pháp giáo dục này giống như cách dạy bơi. Có huấn luyện viên trước khi học viên xuống nước lần đầu tiên đã nhấn mạnh liên tục các yếu lĩnh và điều cần chú ý. Kết quả là khi vừa xuống nước, học viên cuống quýt luống cuống, quên sạch mọi yếu lĩnh, giảng hay không giảng cũng như nhau. Một kiểu huấn luyện viên bơi lội khác thì chẳng nói gì, cứ thế đẩy học viên xuống bể bơi, để họ tự quẫy đạp một lúc. Sau đó mới kéo học viên lên bờ và hướng dẫn tư thế bơi đúng. Ưu điểm của phương pháp dạy học thứ hai nằm ở chỗ, học viên đã được tiếp xúc với nước, đã cảm nhận được cơ thể trong môi trường nước. Lúc này, khi nghe huấn luyện viên giảng giải các yếu lĩnh dưới nước, họ sẽ dễ hiểu hơn và nắm bắt kỹ thuật hiệu quả hơn.
Đặc điểm thứ ba là thể hiện quan điểm cá nhân. Trong các lớp học ở đại học Mỹ, trước những án lệ được đưa ra, giáo sư sẽ yêu cầu sinh viên phải đưa ra lựa chọn và bày tỏ quan điểm rõ ràng, tức là "Nếu là bạn, bạn sẽ làm thế nào?" và "Tại sao bạn lại lựa chọn như vậy?".
Trên lớp, sinh viên có thể tự do phát biểu, nhưng tuyệt đối không được ba phải, không được tùy tiện nói kiểu "Tôi đồng ý cả hai quan điểm" hay "Cả hai ý kiến đều có lý" – những lập luận trung dung, nước đôi. Bởi vì câu trả lời như vậy không chỉ khiến giáo sư cảm thấy sinh viên chưa chuẩn bị bài kỹ lưỡng, mà còn không phù hợp với tinh thần mạo hiểm đã tạo nên nước Mỹ.
Cái gọi là dung hòa, cái gọi là trung dung, trong mắt một số tinh hoa nước Mỹ, chẳng qua là vỏ bọc cho sự thỏa hiệp vô nguyên tắc của kẻ yếu, những kẻ chỉ muốn giữ mình mà đánh mất tinh thần tiến thủ. Các giáo sư sẽ không lãng phí tinh lực và tài nguyên cho những người như vậy, bởi vì kiểu người này có thể thành công ở các quốc gia khác, nhưng ở Mỹ thì gần như không có khả năng nổi bật.
Trở lại lớp học.
Khi các quan điểm tranh luận ngày càng sâu sắc, Biên Học Đạo chợt hiểu ra điều làm nên sự vĩ đại của Harvard – đó là Harvard đã ngấm tự tin và tầm vóc vào máu thịt của sinh viên.
Đương nhiên, Harvard có hàng vạn sinh viên tốt nghiệp, không phải ai cũng có thể làm nên nghiệp lớn. Một bộ phận không nhỏ trong số họ, cũng như đa số người bình thường, trải qua cuộc sống mệt mỏi và gian khổ. Nhưng dù sao đi nữa, nhìn từ góc độ giáo dục, Harvard đã cung cấp mọi điều kiện và khả năng cho sinh viên, chẳng hạn như mạng lưới bạn bè "khủng" và sang trọng, hay việc để những thiên tài làm "quân xanh" để rèn luyện tư duy và tài hùng biện.
Tan học, Biên Học Đạo dùng bữa trưa, ngủ trưa một tiếng, rồi đi dạo bên ngoài.
Vào hạ tuần tháng 9, khuôn viên Harvard đã mang đậm sắc thu.
Ngồi trên chiếc ghế dài cạnh bãi cỏ, nhìn những sinh viên đang ngồi trên thảm cỏ, say mê đọc sách hoặc trò chuyện vui vẻ, Biên Học Đạo bỗng dưng nhớ lại câu hỏi của giáo sư Sandel dành cho một nam sinh da trắng có phần hướng nội trong lớp: "Hãy nói cho tôi biết, bạn định dùng quãng đời tuổi trẻ cuồng nhiệt và quý giá của mình để làm gì?"
Chàng trai da trắng ấy không trả lời ngay lập tức.
Ngay cả ở Harvard, cũng không phải sinh viên nào cũng có thể nói rõ mình muốn gì, hay biết rõ mình muốn trở thành người như thế nào.
Thực tình mà nói, Biên Học Đạo cũng chẳng thể trả lời câu hỏi của Sandel một cách không chút nghĩ ngợi.
Khi diễn thuyết ở trường cũ hay các trường khác, anh thường nói những lời hoa mỹ, không ai có thể bắt bẻ, chẳng hạn như "theo đuổi một cuộc đời đầy ý nghĩa", hay "trở thành người thay đổi thế giới".
Thế nhưng trong sâu thẳm nội tâm, điều anh thực sự khát khao, có lẽ vẫn là có được địa vị, được người khác tôn trọng!
Tất nhiên, nhu cầu được tôn trọng của anh có độ khó khá cao. Ví dụ như hiện tại, nếu có vài giáo sư Harvard hoặc sinh viên da trắng đến bắt chuyện rồi đề nghị chụp ảnh chung, thì thành tựu anh đạt được hẳn là mới gọi là "đúng chỗ".
Đang mải mê với những suy nghĩ viển vông, một nhóm bốn cô gái – hai châu Á, hai da trắng – ôm theo sách vở và laptop đi thẳng về phía Biên Học Đạo.
Ôi chao! Nghĩ gì được nấy thật sao?
...
...
Kế hoạch thường không theo kịp những đổi thay bất ngờ.
Biên Học Đạo đã không đến dự lớp thứ ba của giáo sư Sandel, bởi anh đã không còn ở Mỹ mà đã đến Vancouver.
Anh tình cờ xem lịch và đột nhiên nhớ ra ngày 26 tháng 9 là ngày giỗ của Hồ Khê, thế là anh quyết định bay đến Vancouver ngay lập tức.
Hồ Khê đã đi được một năm!
Dù dấu vết của Hồ Khê trên đời không còn lại bao nhiêu, nhưng Biên Học Đạo vẫn chưa quên nàng trong lòng.
Vancouver, bến tàu nơi tro cốt Hồ Khê được rải xuống biển một năm về trước.
Biển xanh, trời xanh, bãi cát, bến tàu… Mọi thứ xung quanh vẫn như cũ, dễ dàng khiến người ta có cảm giác chuyện xưa mới xảy ra hôm qua.
Biên Học Đạo biết đây chỉ là một ảo giác.
Anh tìm thấy một chiếc ghế không xa bến tàu và ngồi xuống.
Đối mặt với biển cả, anh trầm tư ngồi yên suốt hai giờ đồng hồ.
Sáu vệ sĩ đi cùng chia làm hai nhóm: ba người nghỉ trong xe, ba người khác túc trực bảo vệ gần đó.
Mọi người không nói ra, nhưng trong lòng đều thắc mắc không hiểu sao ông chủ lại "lên cơn" chạy xa đến đây để hóng gió và thẫn thờ.
Lý Binh không có mặt, trong sáu người chỉ có Mục Long biết tại sao Biên Học Đạo lại đến đây vào ngày này. Sau khi suy nghĩ kỹ, anh ta thậm chí có chút cảm động. Có được một tấm chân tình như người đàn ông đang ngồi trên ghế kia, cô gái năm ngoái đã chịu đau đớn mà ca hát vui vẻ trong phòng bệnh ấy, cũng xem như không uổng công mang một tấm chân tình.
Trong dòng suy nghĩ miên man, Mục Long nhớ lại năm ngoái, trong phòng bệnh của Hồ Khê, anh từng thấy một bình hoa móng ngựa màu vàng trắng đang lặng lẽ khoe sắc, mang vẻ cô tịch, tao nhã và trung trinh.
Khoảng nửa giờ sau, Mục Long thấy ông chủ lấy điện thoại ra, rồi ngay sau đó, điện thoại trong túi Đường Căn Thủy đổ chuông.
"Lão Đường, trên xe có rượu không?"
"Rượu gì cũng được."
Sau khi cầm chai rượu, Biên Học Đạo đứng dậy đi đến bến tàu, đổ nửa chai xuống biển, rồi ngửa cổ uống một ngụm lớn, đối mặt với biển và khẽ nói: "Một năm rồi... Năm ngoái khi đi, em sợ không ai đến thăm, anh đã nghe thấy, anh đến rồi đây..."
Anh lại uống thêm một ngụm: "Anh rất tốt, hy vọng em cũng đều tốt..."
"Anh đây... Cứ như một học sinh gian lận mà vẫn đạt thành tích tốt, rồi bắt đầu ảo tưởng mình thông minh hơn người vậy... Còn có thể làm sao đây? Cứ đánh cược một lần xem sao!"
"Em hỏi anh là ai?"
"Anh là anh."
"Đợi khi anh gặp hết anh tài khắp thiên hạ, nhất định sẽ về kể cho em nghe."
Bản dịch này là tài sản trí tuệ của truyen.free, nơi những câu chuyện vẫn tiếp tục được dệt nên.